>

Cách xác định 24 tiết khí


Tiết khí là các thời điểm mà kinh độ mặt trời (KĐMT) có các giá trị 0°, 15°, 30°, 45°, 60°, ..., 345°. (0° là Xuân Phân, 15° là Thanh Minh v.v.). Như vậy để xác định tiết khí ta cần tìm xem vào khoảng thời gian nào thì kinh độ mặt trời có các giá trị này.

Tìm ngày chứa tiết khí


Thường thì ta chỉ quan tâm tới tiết khí rơi vào ngày nào chứ không cần chính xác tới giờ/phút. Ngày chứa một tiết khí nhất định có thể được xác định như sau:

  • Chọn một ngày có khả năng chứa tiết khí cần xác định. Ngày có tiết khí chỉ xê dịch trong khoảng 1-2 ngày nên ta có thể chọn khá sát.
  • Tính kinh độ mặt trời lúc 0h sáng ngày hôm đó và 0h sáng ngày hôm sau
  • Nếu kinh độ mặt trời tương ứng với tiết khí cần xác định nằm giữa hai giá trị này thì ngày đã chọn chính là ngày chứa tiết khí, nếu không ta lặp lại việc tìm kiếm này với ngày trước hoặc sau đó.

Tìm thời điểm tiết khí


Để tìm thời điểm chính xác của một tiết khí, sau khi xác định được ngày chứa tiết khí đó ta có thể thực hiện một phép tìm kiếm nhị phân đơn giản để tìm ra ngày giờ của tiết khí này.

  • Chọn mốc trên và dưới là 0h và 24h (tức 0h sáng ngày hôm sau). Tính điểm giữa 2 mốc (12h trưa) và tính KĐMT tại điểm đó.
  • Nếu KĐMT này nhỏ hơn KĐMT của tiết khí, tìm tiếp trong khoảng từ 0h đến 12h, nếu không sẽ tìm trong khoảng từ 12h đến 24h.
  • Lặp lại việc tìm kiếm đến khi KĐMT của hai điểm mốc cách nhau không quá 0.001 độ.

Bước tính toán quan trọng nhất trong việc xác định tiết khí là tìm kinh độ mặt trời tại một thời điểm bất kỳ. Việc tính toán này được thực hiện với 2 bước:

  • Tính niên kỷ Julius của thời điểm đã cho
  • Tính kinh độ mặt trời cho thời điểm đó

Ngày và niên kỷ Julius


Số ngày Julius (Julian Day Number) của một ngày trong lịch Gregory có thể tính bởi các công thức sau, sử dụng năm thiên văn (1 TCN là 0, 2 TCN là −1, 4713 TCN là −4712):

a = [(14 - tháng)/ 12]
y = năm + 4800 - a
JDN = ngày + [(153
m= tháng + 12a - 3
] - [y/100] + [y/400] - 32045
m + 2)/5] + 365y + [y/ 4
Trong các công thức trên [x/y] là phần nguyên của phép chia x/y.
Để tính niên kỷ Julius (Julian date), thêm giờ, phút, giây theo UT (Universal Time):
    JD = JDN + (giờ - 12)/24 + phút/1440 + giây/86400
Nếu giờ, phút, giây được tính theo giờ Hà Nội (UTC+7:00) thì kết quả phải trừ đi 7/24 ngày.

Tính kinh độ mặt trời tại một thời điểm


Để tính kinh độ mặt trời tại thời điểm, trước hết tìm niên kỷ Julius JD của thời điểm đó theo phương pháp trên. Sau đó thực hiện các bước sau:

T = (JD - 2451545.0) / 36525
L0 = 280°.46645 + 36000°.76983*T + 0°.0003032*T2
M = 357°.52910 + 35999°.05030*T - 0°.0001559*T2 - 0°.00000048*T3
C = (1°.914600 - 0°.004817*T - 0°.000014*T2) * sin M + (0°.01993 - 0°.000101*T) * sin 2M + 0°.000290 * sin 3M
theta = L0 + C
- 0.00569 - 0.00478 * sin(125°.04 - 1934°.136*T) lambda = lambd
lambda = theta
a - 360 * [lambda/360]

Kết quả lambda là kinh độ mặt trời cần tìm. Đó là một góc (tính bằng độ) trong khoảng (0,360).

Ví dụ


Chọn ngày giờ (giờ Hà Nội, UTC+7:00) và nhấn OK để tính kinh độ mặt trời tại thời điểm đó:

   Ngày:    tháng    năm       
Kết quả:

Tìm ngày Đông Chí năm 2008. Kinh độ mặt trời ứng với Đông Chí là 270°. Ngày Đông Chí thường rơi vào khoảng 20/12-22/12 hàng năm. Như vậy trước hết ta thử ngày 20/12/2008. KĐMT lúc 0h sáng ngày 20/12/2008 là 268°.17811 và lúc 0h sáng 21/12/2008 là 269°.19634. Góc 270° nằm sau cả hai giá trị này, như vậy ta phải thử ngày hôm sau. KĐMT lúc 0h sáng ngày 22/12/2008 là 270°.21471, như thế điểm Đông Chí nằm trong ngày 21/12/2008.

Để xác định thời điểm Đông Chí, ta tính KĐMT lúc 12h ngày 21/12/2008, được kết quả 269°.70551, nhỏ hơn 270°, như vậy điểm Đông Chí nằm trong khoảng từ 12h đến 24h. Chọn 18h00 ngày 21/12/2008 sẽ tìm thấy KĐMT 269°.96010, như vậy ta phải tìm tiếp trong khoảng 18h đến 24h. Vào lúc 21h, KĐMT là 270°.08741, như thế khoảng tìm kiếm bây giờ là 18h đến 21h. Lặp lại việc tìm kiếm này thêm khoảng 7 bước nữa sẽ tìm được thời điểm Đông Chí là 18h56. (Kết quả 'chính xác' tính theo lý thuyết VSOP87 là 19h04).


Ngũ Hành Nạp Âm Là Gì?


Tuổi Giáp Tí nếu tách rời can chi ra thì Giáp là Dương Mộc và Tí là Dương Thủy. Tuổi Ất Sữu tách rời can chi ra thì Ất là Âm Mộc còn Sữu thuộc Âm Thổ. Gom hai tuổi Giáp Tí và Ất Sữu nạp Âm thành Hải Trung Kim. Vậy Hải Trung Kim là cái tên nạp âm cho tuổi Giáp Tí, Ất Sửu.

Một vòng từ Giáp Tí đến Quí Hợi có 60 năm. Mỗi 10 năm lại có một chữ Giáp đứng đầu. Ví dụ...Giáp Tí, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần gọi bằng Lục Thập Hoa Giáp chia làm 30 tổ Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, mỗi 2 năm một tổ. Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ qua nạp âm để định từng tính chất khác nhau giữa Kim với Kim , Mộc với Mộc. Như bảng dưới đây.

Giáp Tí, Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim
Bính Dần, Đinh 
Mão -------------Lư Trung Hỏa
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ--------------- Đại Lâm Mộc
Canh Ngọ, Tân Mùi -------------Lộ Bàng Thổ
Nhâm Thân, Quí Dậu----------- Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất, Ất Hợi-------------- Sơn Đầu Hỏa
Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Giản Hạ Thủy
Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim
Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất Dậu--------------Tinh Tuyền Thủy
Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ
Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Tích Lịch Hỏa
Canh Dần, Tân Mão------------ Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------- Trường Lưu Thủy
Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim
Bính Thân, Đinh Dậu------------ Sơn Hạ Hỏa
Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc
Canh Tí, Tân Sữu---------------Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quí Mão-------------Kim Bá Kim
Giáp Thìn, Ất Tỵ---------------- Phú Đăng Hỏa
Bính Ngọ, Đinh Mùi--------------Thiên Hà Thủy
Mậu Thân, Kỷ Dậu-------------- Đại Dịch Thổ
Canh Tuất, Tân Hợi------------ Thoa Xuyến Kim
Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất Mão-------------- Đại Khuê Thủy
Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi --------------Thiên Thượng Hỏa
Canh Thân, Tân Dậu-----------Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quí Hợi------------ Đại Hải Thủy


Hạn và quy tắc định Hạn
     Đại Hạn đầu tiên đóng tại Mệnh.
     Nguyệt hạn, Nhật hạn áp dụng như Tiểu Hạn. Tất cả đều được xem xét tại gốc Tiểu Hạn.
     Không quan tâm đến hạn Nhi đồng, như 1 tuổi coi ở đâu, 3 tuổi coi ở đâu,… chỉ quan tâm đến Tiểu Hạn. Và hãy chờ nhập vào số cục rồi hãy xem. Dễ hiểu là Hỏa Lục Cục hãy chờ đến 6 tuổi ta hãy xem.
     ● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó: 
     Dương Nam, Âm Nữ thì ghi theo chiều Thuận, Âm Nam, Dương Nữ thì ghi theo chiều Nghịch.
     Thủy Nhị Cục bắt đầu bằng 2, rồi 12, 22, 32…
     Mộc Tam Cục bắt đầu bằng số 3, rồi 13, 23, 33…
     Kim Tứ Cục bắt đầu bằng số 4, rồi 14, 24, 34…    
     Thổ Ngũ Cục bắt đầu bằng số 5, rồi 15, 25, 35…
     Hỏa Lục Cục bắt đầu bằng số 6, rồi 16, 26, 36…
     Phương pháp xác định Cục sẽ được trình bày ở Phần tiếp theo của Tài liệu.
     Thí dụ: Dương nam, Mộc Tam Cục, bắt đầu ghi số 3 ở cung Mệnh, rồi ghi số 13 ở cung Phụ Mẫu, ghi 23 vào cung Phúc Đức,...
     ●Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Các xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:

Về cơ bản trong Tử Vi các sao được chia ra thành các Vòng, bộ và nhóm sao như sau:
     Vòng TỬ VI tinh hệ gồm: 6 sao;
     Vòng THIÊN PHỦ tinh hệ gồm: 8 sao;
     Vòng THÁI TUẾ gồm: 5 sao;
     Vòng LỘC TỒN gồm: 5 sao;
     Vòng BÁC SỸ gồm: 12 sao;
     Vòng TRƯỜNG SINH gồm 12 sao;
     Ngoài ra là các sao được an cố định theo Can, Chi, Ngày, Tháng, Giờ khác được tổng hợp trong dưới đây:




I.Cách xem niên hạn trong tử vi đẩu số



Khi luận vận hạn cho một năm, chúng ta cần phải sử dụng kết hợp các sao lưu (các sao thay đổi theo năm) với các cung cố đinh và cung lưu. Có rất nhiều trường phái xem vận hạn khác nhau và vẫn còn gây tranh cãi.



II.Cách an sao lưu



Tùy theo môn phái tử vi, người ta an các sao lưu tương ứng. Trong hầu hết các sách tử vi như Tử Vi đẩu Số Tân Biên, người ta sử dụng các sao lưu như:Kình, Đà, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Mã, Thái Tuế, Thiên Khốc, Thiên Hư. Tuy nhiên, nhiều học giả khác đã sử dụng nhiều hệ thống sao lưu khác như Tuần, Triệt, tất cả các sao an theo thiên can và địa chi như Đào, Hồng, Hỉ, Tứ Hóa, Thiên Hình, LN Văn Tinh, Khôi, Việt..



III.Cách an Lưu Cung



Có nhiều trường phái xem lưu cung khác nhau, nhưng thông thường là kết hợp cả ba cung lưu niên và các lưu cung tương ứng.[1] Nhiều tác giả chỉ xét Tiểu hạn, còn tất cả các cung khác cố định, trong khi nhiều tác giả khác sử dụng các phép lưu cung sau:



1-Lưu Niên Đại Vận, được coi là lưu mệnh, và sau đó lưu thêm tất cả các cung còn lại, bởi Tiến Sĩ Vuivui, còn gọi là Nhân Bàn. Xem [2]. Theo đó, đây là cung nói về "kết quả của năm đó".



2- An theo Tiểu Hạn được coi là Lưu Mệnh, và qua đó an Lưu Phụ, Lưu Thê.. còn được gọi là Thiên Bàn. Xem [3] Có thể nói, đây là nghiên cứu con người, là diễn tiến cho bản thân. (Tuy nhiên, rất nhiều học giả phản đối cách xem lưu cung theo cách an tiểu hạn, dù rằng chính cung tiểu hạn vẫn được áp dụng.)[2]



3-Cung An Lưu Thái Tuế, được coi là lưu mệnh, sau đó an ra các lưu cung khác. Người ta còn gọi là Địa Bàn vì cung cố định. Điển hình nhất của trường phái này là phái Tử Vân của Đài Loan. [4] Có thể nói, đây là nghiên cứu cách trời đất ưu đãi ta, xem những biến chuyển cực đoan của vận mệnh, vì thái tuế có nghĩa là thần của năm, chủ quản địa chi.



Ví dụ: Khởi thủy lưu thái tuế là số trời không thuận lợi, Diễn biến (tiểu hạn) là tai nạn xe cộ, kết quả (Lưu niên đại vận) là hao tài, và có liên quan đến pháp luật.



Cho đến nay vẫn chưa có một phương pháp thống nhất nào để nghiên cứu các trường hợp này, mà hầu hết mọi người đều sử dụng song song kết hợp cả ba phương pháp.



Tương tác giữa các Phi Tinh và Lưu Cung

Để nghiên cứu cụ thể vận hạn, cần phải xem xét các tương tác của các tầng phi tinh và các tầng lưu cung khác nhau. Có một số tác giả [5] khẳng định rằng tương quan sức mạnh giữa ba loại tứ hóa phụ thuộc vào độ vững chắc của cách cục. Cách cục cố định càng vững thì sự thay đổi bới các tầng Lưu Tứ Hóa khác càng yếu. Theo Liễu Vô Cư Sĩ, khi xem vận cần bỏ Khoa và Quyền. Theo Tiến Sĩ VDTT,[6] khi xem một sự kiện, ví dụ ta xem sự nghiệp một năm, ta phải xem đồng thời ba cung là Cung quan lộc nguyên thủy, cung đại hạn quan, cung lưu niên quan (an theo Lưu Thái Tuế) rồi xem cung nào bị hoặc được Lộc Kị kích khởi mà luận xấu tốt. Cung nguyên thủy bị kích khởi thành hiện tượng thì ảnh hưởng lâu dài nhất, kế đến là cung hạn bị kích khởi, rồi đến cung lưu bị kích khởi.

NHẬT KÝ WEBSITE

AM CÁC MINH - HỌC THUẬT và TÁC PHẨM

Loading...

THEO DÕI

| Copyright © 2013 BÁCH KHOA THƯ AM CÁC MINH