>
Khi bàn về những giòng tư tưởng cơ bản hình thành nên nền văn hóa Việt Nam và con người Việt Nam ngày nay, người ta thường chú ý vào những bộ phận cấu thành sau đây: giòng tư tưởng bản địa, tư tưởng Phật, Nho, Lão, các giòng tư tưởng của phương Tây du nhập vào nước ta, trong thời cận và hiện đại, và đặc biệt, từ cuộc cách mạng tháng Tám, tư tưởng Mác-Lênin. Trong bài phát biểu ngắn này, và nhất là với kiến thức hạn chế của mình, tôi không dám phát biểu bao quát tất cả mọi giòng tư tưởng nói trên, mà thứ nhất, nêu ra một số vấn đề về phương pháp luận, và thứ hai, nói lên nhận thức của mình về vai trò của giòng tư tưởng Phật giáo, mà tôi có am hiểu đôi chút.
 Vài ý kiến về phương pháp luận
 Trí nhớ của dân tộc cũng như trí nhớ của cá nhân vậy, nó ghi nhớ một cách dễ dàng hơn những gì là tích cực, tốt đẹp, có ích thiết thực đối với sự sinh tồn và phát triển của bản thân nó. Còn những gì là tiêu cực, ác xấu, có hại đối với sự tồn tại và phát triển của nó, thì nó chóng quên, hoặc chỉ nhớ một cách mơ màng, nhớ trong chừng mực để tự răn đe, để cảnh giác.
 Hơn nữa, dân tộc ta chỉ nhớ rõ những gì nó hấp thụ được, những gì mà nó đã biến được thành bản thân nó, thành ra sở hữu thật sự của nó, chứ không phải là vay mượn. Vì vậy, trên trực tế rất khó phân biệt giòng tư tưởng bản địa thuần túy với các giòng tư tưởng du nhập, như Phật, Lão, phương Tây v.v...Bởi vì những giòng tư tưởng này muốn cắm rễ sâu, dựng gốc bền tại Việt Nam đều phải Việt Nam hóa, phải biến thành thực sự của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, Chân lý là con đẻ của thời gian. Chiều dài thời gian của lịch sử nước ta khá đủ để thử thách cái tích cực, gặn lọc cái tiêu cực trong các giòng tư tưởng du nhập. Nếu biết nhìn và phân tích, đồng thời phải giữ đúng thái độ khách quan, khoa học, gạt bỏ mọi định kiến, thì vấn đề đặt ra, vấn đề nhận diện những giòng tư tưởng chủ đạo, ảnh hưởng tới sự hình thành nền văn hóa Việt Nam, vấn đề đó sẽ được giải quyết tốt đẹp. Và công tác viết bộ sử "Lịch sử tư tưởng Việt Nam" sẽ được hoàn thành viên mãn.
 Tất nhiên, có một số công việc bước đầu nên làm và chúng ta có thể làm được. Đối với mỗi hệ tư tưởng quan trọng, nên tổ chức các bản báo cáo giới thiệu những chủ thuyết cơ bản, lịch sử phát sinh và triển triển của hệ tư tưởng đó, lịch sử du nhập của hệ tư tưởng đó vào nước ta. Các bản báo cáo đó, được bổ xung và sửa chữa thích đáng và sẽ trở thành các chương của bộ sách của chúng ta.
 Vài ý kiến sơ khởi đối với vai trò của tư tưởng hệ Phật giáo
 Phật giáo đã tồn tại ở nước ta hơn 18 thế kỷ, một chiều dài thời gian khá đủ để dân tộc ta khẳng định và gạn lọc, khẳng định những gì tích cực và hay đẹp, gặn lọc những gì không hợp. Một chiều dài thời gian khá đủ để cho đạo Phật, dù là truyền từ Ấn Độ hay từ Trung Hoa sang, được bản địa hóa, Việt Nam hóa, để cho những giá trị tinh hoa của đạo Phật biến thành sở hữu thật sự của dân tộc Việt Nam. Có thể nói, quá trình bản địa hóa của đạo Phật ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử, vì xét cho cùng, không bản địa hóa có nghĩa là không vào được bản địa, và chóng hay chầy sẽ bị đào thải. Nhưng bản địa hóa tới mức đạo Phật mất hết bản sắc, mọi tư tưởng, cơ bản nhất của đạo đều bị phủ định thì đó cũng là một sự đào thải, nhưng theo một kiểu khác.
 Cho nên quá trình đạo Phật du nhập vào bất cứ một quốc gia hay một dân tộc nào (vào nước ta cũng vậy) là một quá trình mâu thuẫn và biện chứng, diễn biến qua sự đấu tranh của hai xu hướng: xu hướng bản địa hóa, và xu hướng bảo vệ những gì là tinh hoa cốt lõi của đạo.
 Trong trường hợp đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ hơn 18 thể kỷ, có những thời kỳ đặc biệt là thời kỳ mới du nhập (cho tới cuộc khởi nghĩa của Lý Bí) và các thời kỳ Đinh, Lê, Lý, Trần, hai xu hướng dân tộc hóa và bảo vệ tinh hoa của đạo lại hình như phát triển theo cùng một chiều, hổ trợ nhau cùng phát triển thay vì đối kháng nhau. Ngay trong những thời kỳ khác, mâu thuẫn đối kháng có diễn ra thì mặt đối lập cũng không phải là dân tộc mà là bọn Nho gia, tạm thời lũng đoạn được triều đình và ra sức bài xích đạo Phật.
 Có nhiều dữ kiện lịch sử cho thấy đạo Phật đầu tiên du nhập vào Việt Nam, bằng đường bộ hoặc đường biển từ Ấn Độ sang. Lúc bấy giờ, nước ta có tên là Giao Chỉ hay là Giao Châu và là một quận huyện Bắc thuộc. Đạo Phật truyền sang Giao Chỉ trước, rồi từ đó truyền sang miền Nam Trung Hoa. Sử liệu đáng tin cậy và thường được dẫn chứng là một đoạn văn trong cuốn "Thiền Uyển Tập Anh", trích lời một pháp sư Trung Hoa là Đàm Thiên đời nhà Tùy thừa nhận là đạo Phật đã từ Ấn Độ, truyền trực tiếp sang Giao Châu và đã hưng thịnh ở đây trong khi đạo Phật tại miền Giang Nam Trung Hoa chưa có gì. Một sử liệu khác kể tên những vị sư Ấn Độ và Trung Á, làm công tác truyền bá đạo Phật tại Giao Châu, và họ đều đi đường bộ từ Ấn Độ sang Giao Châu, ngang qua Phù Nam tức Campuchia hiện nay. Nhưng trước các vị Tăng sĩ Ấn Độ, chắc chắn là đã có nhiều thương nhân Ấn Độ qua Việt Nam buôn bán và có thể ở lại đây lâu ngày. Họ đều tín ngưỡng đạo Phật, và người dân Việt Nam tiếp xúc với họ cũng dần dần chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng Phật giáo.
 Các chủ thuyết cơ bản của Phật giáo như khổ, vô thường, vô ngã, ảnh hưởng như thế nào tới các tầng lớp dân chúng Việt Nam thời bấy giờ?
 Ba tư tưởng cơ bản của đạo Phật thường được gọi là ba pháp ấn là khổ, vô thường và vô ngã. Thời kỳ đạo Phật du nhập vào Việt Nam là thời kỳ nước ta còn bị Trung Hoa đô hộ (nhà Hán). Dân ta sống dưới ách đô hộ áp bức và bóc lột của phong kiến Trung Hoa có một thức sâu sắc, cụ thể về nỗi khổ của một dân tộc, một quốc gia mất quyền độc lập, bị làm nô lệ, đạo lý khổ của đạo Phật vì vậy rất dễ được nhân dân ta chấp nhận. Tất nhiên người dân Việt Nam bình thường cảm nhận dễ dàng cái khổ cụ thể, hiện tiền của người dân bị áp bức. Đó là điều mà kinh sách Phật gọi là khổ khổ. Còn những hình thước khổ vi tế hơn, như hoại khổ, hành khổ thì phải là người có học và từng trải mới cảm nhận được. Hoại khổ là nỗi khổ đối với hạnh phúc và niềm vui chóng tàn. Hành khổ là nỗi khổ cảm hoài trước sự vật biến thiên, đổi thay không ngừng.
 Trong thời kỳ đạo Phật mới du nhập vào Việt Nam, tức là vào thời kỳ đầu công nguyên, đạo lý vô thường của Phật giáo có tác dụng tích cực là gây được trong các từng lớp nhân dân đông đảo niềm tin thời kỳ đô hộ không thể nào kéo dài, dân tộc Việt Nam sẽ có ngày được giải phóng và sống độc lậ tự do. Có thể là các vị Thiền sư Việt Nam, thời bấy giờ, trong các buổi thuyết pháp và giảng dạy đã biết nhen nhúm trong dân chúng niềm tin và tư tưởng lạc quan đó. Hơn nữa, đạo Phật với tư cách là một hệ tư tưởng không phải là tư tưởng từ Trung Hoa sang, mà là từ Ấn Độ truyền vào ngang qua thương nhân và Tăng sĩ truyền giáo Ấn Độ rất dễ dàng được dân Việt Nam chấp nhận và hoan nghênh. Đó cũng là phương thuốc tốt đối trị bệnh tư tưởng đại Hán, du nhập vào nước ta cùng với quân đội xâm lược và khổng giáo. Các Thiền sư Việt Nam đã gián tiếp giảng dạy rằng, Trung Hoa không phải là nước đứng giữa trời đất, Ấn Độ mới thật là nước đứng giữa, có vị trí trung hòa, vì vậy mà Phật sinh ra ở đấy (Mâu Bác: Lý Hoặc Luận). Sách Khổng Mạnh không phải là sách Thánh, cũng có những điều nói sai, đặc biệt là câu của Khổng Tử đề cao dân tộc Trung Hoa là văn minh còn các dân tộc khác đều là man di mọi rợ v.v...
 Pháp Ấn thứ ba của đạo Phật, lý vô ngã, là viên đá tảng, là cơ sở của toàn bộ nền đạo đức học và triết học Phật giáo. Vô ngã là không có cái Ta. Kinh sách Phật dạy rằng con người thực ra chỉ là do năm uẩn tạm thời hòa hợp mà thành, chứ không có linh hồn hay một cái Ta nào thường tại. Năm uẩn tức là sắc (phần vật chất), thọ (cảm xúc, cảm thọ), tưởng (tri giác, suy tưởng), hành (ý muốn, dụng tâm) và thức (trí phân biệt). Ở đây, chúng ta không đi sâu vào mặt triết học của thuyết vô ngã. Chúng ta chú ý tới ý nghĩa của nó đối với đạo đức và hành động của con người. Vô ngã là không có cái ta, sở hữu của Ta. Mà cái Ta chính là trở ngại lớn nhất cho những hành động hy sinh và dũng cảm vì xã hội, vì dân tộc và lý tưởng. Chính đức tính hy sinh cao cả đó là rất cần thiết trong thời kỳ cách mạng, đánh đuổi bọn đô hộ Bắc phương và xây dựng nền độc lập của tổ quốc . Hơn nữa, những sống theo nếp sống vô ngã, tức là không cá nhân, vị kỷ sẽ rất dễ đoàn kết một lòng, cùng nhau hợp tác để phụng sự lý trởng giải phóng dân tộc và quốc gia. Vừa có đức tính hy sinh, dũng mãnh, vừa đoàn kết một lòng, nhân dân Việt Nam đã hội tụ đủ điều kiện quan để kết thúc nghìn năm Bắc thuộc, với trận chiến thắng Bạch Đằng giang lừng lẫy của Ngô Quyền.
 Vì sao trong buổi đầu dựng nước, Đinh Tiên Hoàng đã mời ngay Thiền sư Ngô Chân Lưu làm quốc sư, và ban cho mỹ hiệu Khuông Việt Đại Sư, nghĩa là làm khuông phép, mẫu mực cho nước Việt. Phải chăng Ngô Chân Lưu thuộc dòng dõi Ngô vương, tức Ngô Quyền, phải chăng Thiền sư là người có đủ tài đức? Đúng là có những lý do như vậy, nhưng còn một lý do nữa là vua Đinh Tiên Hoàng, khi lựa chọn quốc sư Khuông Việt, muốn khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo, của các thiền sư, của tăng Ni Phật tử Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp thần thánh đánh đuổi bọn xâm lược Bắc phương đặt nền móng lâu dài cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và hùng cường.
 Trí nhớ của dân tộc thường thông qua việc làm của những lãnh tụ chân chính của họ mà được thực hiện. Sử liệu cho biết Lý Bí đã cho xây dựng chùa Khai Quốc nay là chùa Trấn Quốc, trên bờ hồ Tây, cạnh đường Thanh Niên bây giờ. Xây dựng nước Vạn Xuân đồng thời với xây dựng chùa và đặt tên chùa là Khai Quốc tức là dựng nước, phải chăng Lý Bí cùng với dân tộc Việt Nam đã nhớ lại công lao của hệ tư tưởng Phật giáo trong cuộc vận động độc lập tự chủ kéo dài nhiều thế kỷ, phải chăng Lý Bí muốn khẳng định vai trò cách mạng của hệ tư tưởng Phật giáo có khả năng đối trị hệ tư tưởng Đại Hán, đã làm ô nhiễm một phần đầu óc của số ít từng lớp thơ lại và nha lại, tay sai trung thành của ngoại bang lúc bấy giờ.
 Lê Đại Hành cũng đã nhớ công lao của đạo Phật trong sự nghiệp giải phóng đất nước và đặt niềm tin vào đạo Phật khi yêu cầu hai Thiền sư là Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp sứ giả Tống là Lý Giác và trong mỗi việc chính sự quan trọng, kể cả việc quân, vua Lê đều tham vấn hai Thiền sư.
 Lý Công Uẩn mới dời đô về Thăng Long đã vội cho xây dựng 8 ngôi chùa tuy rằng Hoàng cung chưa xây dựng và Thái miếu chưa lập. Vua Lý đã nhớ gì khi có hành vi như vậy, và hành vi đó đã từng bị một sử gia Việt Nam, nặng đầu óc Nho gia phê bình. Phải chăng Lý Công Uẩn đã nhớ sư Khánh Vân đã nuôi nấng mình từ nhỏ, và sư Vạn Hạnh đã đào tạo mình nên người, thành ông vua Phật tử đầu tiên cho nước Đại Việt.
 Theo tôi, một đặc sắc của Phật giáo Việt Nam là nó hòa mình vào dân tộc, như cá với nước, cây với đất. Cảnh chùa chợ, chùa làng thật là gần gũi với người Việt Nam. Tiếng chuông chùa sớm, mõ chiều nghe rất quen tai, ấm lòng đến nỗi một nhạc sĩ Công Giáo như Nguyễn Xuân Khoát cũng viết được bài "Nhật ký chuông mõ" để ca ngợi tính nhạc dân tộc của chuông mõ! "Đất vua chùa làng, phong cảnh Bụt" một câu đối xứng ba vế, nhưng hai vế đã thuộc về Phật giáo rồi.
 Trong số gần 50 nhà thơ, nhà văn được kể trên, đăng bài trong "Tổng tập Văn học Việt Nam" quyển I, thì đã có hơn 40 người là nhà sư rồi. Tuy dưới đời Trần Phật giáo không được chính thức thừa nhận là quốc giáo, nhưng hệ tư tưởng Phật giáo mặc nhiên là tư tưởng chủ đạo, và chắc là đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giữ nước và dựng nước lúc bấy giờ.
Khi cha Nguyễn Thái Hợp cho biết là ban tổ chức cuộc hội thảo ngỏ ý muốn giao cho tôi cái đề tài thuyết trình là “Minh triết dân gian Việt Nam theo Cadière” thì tôi đã nhận lời ngay, vì thấy rằng vẫn còn một chút duyên nợ với xứ Huế và với cha Cadière nữa.
Với xứ Huế, là vì trước đây đúng một nửa thế kỷ, tôi được cha Cao Văn Luận mời về dạy triết học ở Đại học Văn khoa; ngày nay sau 45 năm vật đổi sao dời đã nhiều, tôi lại có dịp về làm việc tại Huế.
Với cha Cadière, là vì năm 1957, khi còn đi học ở Mainz, bên Đức, tôi đã vào thư viện, lục văn lục sách, tìm ra, đọc và ghi chú cẩn thận mấy bài cha Cadière, lúc đó còn đang ở Quảng Trị, viết về Việt Nam vào đầu thế kỷ XX trong tạp chí Anthropos, in bên nước Áo, của cha Wilhelm Schmidt. Đó là tạp chí về Dân tộc học và Ngôn ngữ học. Riêng cha Schmidt thì đã có tiếng vì bộ sách gồm 12 tập, khổ lớn, là: Nguồn gốc ý niệm Thiên Chúa(Ursprung der Gottesidee, 1926-1955) . Tôi đã đọc bài “Triết học bình dân của người An Nam / Việt Nam” (“Philosophie populaire annamite / vietnamienne”), phần thứ nhất, trong: Anthropos một nửa thế kỷ sau khi xuất bản và cũng đúng vào năm được tái bản trong tập III của bộ sách Niềm tin và thực hành tôn giáo của người An Nam / Việt Nam (Croyances et Pratiques Religieuses des Annamites / Vietnamiens), thu góp lại nhiều công trình nghiên cứu của cha Cadière. Nay mới đúng là dịp bàn về bài đó.
Lập trường và phương pháp của cha Cadière
Ngay từ đầu bài cha đã đưa ra lập trường lý thuyết rõ rệt có vẻ dứt khoát. Thiết tưởng nên trưng dẫn ra đầy đủ, để có thể tiếp tục bàn luận sau này.
Tác giả viết: “Không có triết học Việt Nam. Cùng với toàn bộ văn hóa Trung Quốc, dân Việt đã thâu nhận lấy những nguyên lý triết học lâu đời được người Tàu chấp nhận. Người Việt đã không in được vào những nguyên lý ấy một sắc thái riêng nào cả, họ không thay đổi gì, và có thể nói là họ cũng chẳng đả động gì đến cả. Các học thuyết trong kinh điển truyền sang thế nào, thì nho sĩ Việt Nam chấp nhận như thế; riêng lối giải thích của Châu Hi, thì họ tiếp nhận mà không tranh luận gì cả, thường thì họ không hiểu cho đúng, và cũng chẳng đào sâu thêm nữa. Trừ mấy tác phẩm về luân lý ra, thì không có tác phẩm triết học nào gốc từ Việt Nam mà ra. Vì thế, khi nói là không có triết học Việt Nam, thì tôi có ý nói là không có một hệ thống triết học, không có những học thuyết có thể xếp thành một bộ môn, không có một triết học có lý sự, tóm tắt được những nỗ lực tìm tòi, suy tư, ngưỡng vọng, của tâm hồn người Việt. - Tuy nhiên, nếu không có triết học riêng của lớp học giả, thì cũng vẫn có một thứ triết học của lớp bình dân, vì ở trình độ văn minh nào con người ta cũng có những ý kiến về vũ trụ vạn vật, về con người, về khả năng và hành động của mình. Những ý kiến đó tuy người ta có suy tư thêm ít nhiều, có làm cho minh bạch đôi chút và ý thức được qua loa, nhưng nó có thực đó, và vẫn biểu lộ ra trong ngôn ngữ”.
Lập trường đó có cái đặc sắc là nhấn mạnh vào tầm quan trọng của ngôn ngữ. Như ta biết, có một số người quan niệm rằng người ta ai nấy tư tưởng riêng cho mình ở trong thâm tâm, rồi sau đó mới dùng ngôn ngữ để phát biểu ra ngoài cho người khác biết. Nhưng quan niệm như thế là đi vào con đường bế tắc. Thực vậy, cho dù ta tư tưởng một mình, nhưng không phải là tự mình làm ra được, vì các ý niệm ta dùng để tư tưởng thì không phải là ta tự tạo ra, nhưng đã là do người chung quanh dạy cho ta ngay từ lúc ta bập bẹ học nói. Nếu ngôn ngữ vốn không phải là của chung, thì làm sao người khác lại có thể hiểu được khi ta tự mình nói ra?
Có người lại cho rằng ngôn ngữ riêng của đoàn thể, của tôn giáo hay của môn phái mình thì người ngoại cuộc có nỗ lực đến mấy cũng không hiểu gì, và rốt cục thì chỉ còn những bí thuật mà sư phụ dạy cho đệ tử mà thôi. Chưa chắc đã đúng hẳn, vì cho dù có bắt buộc phải nói cùng một ngôn ngữ, thì rồi người ta cũng dần dần hiểu trệch đi một chút, tùy theo kinh nghiệm hay sở ước riêng của cá nhân. Kết quả trông thấy là các trào lưu triết học cũng như tôn giáo từ một ông tổ mà ra, thì đều đã sinh ra nhiều môn phái, nếu không kình địch với nhau thì cũng khó đồng ý với nhau. Dù sao, từ xưa đến nay nhân loại trao đổi tư tưởng với nhau, truyền bá tôn giáo cho nhau một cách rộng rãi, thì thường là do phiên dịch. Những ai đã làm công việc phiên dịch, hay là nói được vài ba ngôn ngữ, thì đều thấy rằng rất khó phiên dịch sao cho sát ý, sao cho đủ ý, vì có những cái mà mình nói ra bằng ngôn ngữ này mà không nói ra được như thế trong ngôn ngữ khác. Nhưng bảo là người ta không hiểu được gì cả là nói quá đáng.
Cha Cadière không đi vào con đường bế tắc như thế: cha dùng hai kiểu nói. Một đàng thì nói kiểu thông thường rằng: “Ngôn ngữ là cái gương phản chiếu lại cái tâm thức của một dân tộc. Nó phản chiếu những ý niệm của con người (…). Từ ngữ là những bộ áo mặc cho tư tưởng (…)”. Nhưng không phải chỉ có thế, vì ngôn ngữ không phải chỉ là cái áo ngoài mà ta mặc cho tư tưởng: ta không thay đổi ngôn ngữ như thay áo, vì như ta biết, không phải áo nào mặc vào cũng vừa vặn cả, nhất là áo đi mượn về mặc. Cho nên tác giả lại thấy cần thêm vào đó một câu cốt yếu: “Ngôn ngữ vừa là cái lên khuôn (moule) cho tinh thần, vừa là cái giải thích (interprète) cho tinh thần. Vì thế nếu ta muốn biết người Việt tư tưởng ra sao, thì phải đưa ngôn ngữ của họ ra mà hỏi (…)”.
Từ đó đưa ra kết luận: “Ngôn ngữ nói lên toàn bộ những tư tưởng triết học đang lưu hành trong dân gian, một cách có ý thức hay vô ý thức. Đó là những tư tưởng mà các thế hệ truyền lại cho nhau mà không thay đổi bao nhiêu, nó tượng trưng cho cách thức người dân quan niệm về vũ trụ và các vật trong đó, cũng như về bản tính, về đời sống luân lý và đời sống tinh thần của con người. Đó là triết lý bình dân vậy”. Và đây là minh triết dân gian, đề tài mà tác giả muốn nghiên cứu.
Sau khi trình bày ý kiến của tác giả, tôi xin căn cứ vào đó để đặt lại vấn đề vì sao tác giả đã cho rằng không có “triết lý” Việt Nam.
1 - Nội dung bài nghiên cứu
1.0 - Triết lý của học giả và minh triết trong dân gian
Trước khi đi vào nội dung bài nghiên cứu, thiết tưởng cũng nên phân biệt cho rõ triết lý của lớp học giả với minh triết trong dân gian, để xác định phạm vi sưu tầm của cha Cadière. Sau đó ta sẽ thử xét xem vì lý do nào mà lại bảo rằng không có triết lý Việt Nam.
Như vừa trưng dẫn trên đây, tác giả phân trần như sau: “Khi nói là không có triết học Việt Nam, thì tôi có ý nói là không có một hệ thống triết học, không có những học thuyết có thể xếp thành một bộ môn, không có một triết học có lý sự, tóm tắt được những nỗ lực tìm tòi, suy tư, ngưỡng vọng, của tâm hồn người Việt”.
Như thế có nghĩa là tuy vẫn phải ăn rễ vào cảm nghiệm, vào kinh nghiệm của con người, và vào ngôn ngữ thông thường, nhưng triết lý của học giả là những suy tư đòi phải nhìn xa hơn, phải dùng lý trí xác nhận, kiểm chứng và phê bình, để:
1) Một là, về mặt hình thức, thì đi tới một hệ thống tư tưởng liên hệ với nhau, ăn khớp vào nhau, một bộ môn có mạch lạc lý sự, không rời rạc, không mâu thuẫn nhau, như trong một giấc chiêm bao.
2) Hai là, về mặt nội dung, thì đi vượt ra bên ngoài giới hạn của cảm giác mà mình đã biết, để nhằm tới một hệ thống tư tưởng tổng quát hơn về thực tại và về vận mệnh con người. Trong ý hướng như thế, người ta phải dùng đến nguyên lý nhân quả, để tìm ngược trở về nguyên nhân của sự việc đã xảy ra, và xa xăm hơn, về cho tới nguyên nhân thế giới; lại phải dùng thêm nguyên lý cứu cánh, để dự định đi xuôi về tương lai của người ta, của cá nhân cũng như của xã hội. Đi thêm một bước nữa, người ta còn đào sâu để tìm xem nền tảng và ý nghĩa nhân sinh là gì và theo đó thì phải làm gì cho nên người, nghĩa là tìm cho ra lẽ sống.
3) Điểm thứ ba là phê bình: ai nấy tự phê bình quan niệm và luận điệu của mình, đồng thời phê bình và trao đổi với người khác, nhưng điểm cuối cùng này chỉ thực hiện được trong xã hội bình đẳng biết trọng dân chủ, như xã hội Hi-lạp thượng cổ.
Nếu theo như tác giả chủ trương, người Việt ta không có thứ triết lý như thế, thì cái minh triết dân gian là gì? Thưa là những ý tưởng được biểu diễn ra một cách tự nhiên trong từ ngữ và các kiểu nói thông thường trong dân gian. Có loại từ ngữ là “danh từ”, vốn dùng để gọi tên, và để phân loại một cách rất tự nhiên: những cái ta thấy giống nhau về một điểm nào đó, thì ta xếp vào một loại và gọi chung cùng một tên. Đi xa hơn chút nữa, những tên gọi đó gợi ý cho ta so sánh và bày ra những kiểu nói về những hoàn cảnh tương tự.
Theo chủ trương đó tác giả liệt kê ra tất cả ý nghĩa - nghĩa đen cũng như nghĩa bóng - của các từ ngữ, các kiểu nói và ca dao ngạn ngữ có liên hệ đến hai phạm vi kể trên. Ba thứ đó là cái đặc sắc riêng cho mỗi ngôn ngữ, và vì thế rất khó phiên dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Tác giả gọi nó là “philosophie populaire”, triết lý bình dân. Tôi xin dùng cụm từ “minh triết” để phân biệt với từ ngữ “triết lý” mà ta đã quen dùng, để nói lên rằng đây mới chỉ là những ý tưởng tự nhiên nảy ra trong ngôn ngữ, trước khi người ta lý luận để làm thành hệ thống và để đào sâu hơn cho đến nền tảng, như trong “triết lý” của lớp học giả.
Thế nhưng căn cứ vào các kiểu nói bình dân, rồi cho rằng tư tưởng chỉ mới đến trình độ “minh triết” chứ chưa đi tới “triết lý”, đó là lối giải thích chưa chắc là chính đáng, đó là tìm không đúng chỗ; vì ta đều biết rằng khi nói về triết lý của người Pháp hay người Đức, thì không bao giờ có ai nghĩ đến việc phải tìm ra nó trong các kiểu nói đặc biệt, trong phong dao ngạn ngữ, trong các truyện biến ngôn hay truyện kể cho trẻ em, như các truyện của Perrault hay của Grimm hay là trong phong tục tập quán mà Van Gennep đã sưu tầm (folklore).
Áp dụng phương pháp nghiên cứu nêu ra trên đây, tác giả chia đối tượng ra làm hai phần, và căn cứ vào cách dùng ngôn từ trong hai phạm vi đó, để tìm cho ra những tư tưởng về vũ trụ và về con người, do ngôn từ tự nhiên gợi ra. Lại thêm vào đó khá nhiều phong tục và lễ nghi tôn giáo dân gian mà đôi khi không thấy do ngôn từ trực tiếp gợi ra.
Phần thứ nhất (trang 41-98) là vũ trụ quan, bàn về vũ trụ, và lại chia làm hai mục:
1) Thế giới siêu nhiên (tr. 43-70), gồm có: trời, đất, thần, ma, quỉ, và hương hồn của ông bà tổ tiên.
2) Thế giới hình sắc (tr. 70-98), gồm có: vũ trụ, tinh tú, bốn phương, mặt đất, nguồn gốc vũ trụ, các loài vật sống động; thêm vào đó thì tác giả trưng ra khá nhiều câu ngạn ngữ về chừng ba chục loài muông chim cầm thú (tr. 86-98).
Phần thứ hai là nhân sinh quan, bàn về con người (tr. 99-205), cũng chia làm hai mục:
1) Các phần thân thể người ta (tr. 99-167).
2) Các nguyên lý làm cho con người ta sống động, như: hơi, khí, hồn, phách, vía, tinh thần, v.v...
Xem qua chi tiết của công việc làm như thế, viết ra gần hai trăm trang khổ lớn, ta thấy là cha Cadière là người thật có sở trường, thông thạo và am hiểu những kiểu nói tế nhị của tiếng Việt. Nhưng cái minh triết dân gian do ngôn từ gợi ra như thế nào, và gợi ra ít hay nhiều, thì đó lại là vấn đề khác, vì lẽ rằng ta chỉ chắc được một điều là nó chưa được hệ thống hóa - mà có lẽ cũng không nên hệ thống hóa - và chỉ xuất hiện dưới hình thức “những mảnh vụn triết lý” (theo kiểu nói của triết gia Đan Mạch Kierkegaard).
Muốn hiểu cái minh triết dân gian mà tác giả trình bày, ta sẽ đi vào hai phần đó, nhưng thiết tưởng không cần theo hết và cũng không nên theo sát các tiết mục, vì cách phân chia các tiết mục cũng có chỗ hơi gắng gượng, ví dụ tiết mục về hương hồn ông bà tổ tiên thì cũng có thể xếp trong mục nhân sinh quan, khi bàn về hồn phách. Hơn nữa, lại vì có nhiều tiết mục chỉ đưa ra những ngôn từ quen dùng, nhưng không gợi ra ý kiến gì mới mẻ. Vì thế thiết tưởng chỉ nên chú trọng vào những điều đặc sắc mà thôi.
Về vũ trụ quan thì có lẽ mục thứ nhất, về thế giới siêu nhiên, vô hình, quan trọng hơn. Còn về nhân sinh quan, thì trong mục thứ nhất chỉ có một vài cơ thể được tác giả bàn rộng ra, vì được coi như là cách thức diễn tả tâm tình bên trong; và trong mục thứ hai, có nói đến các nguyên lý vô hình làm cho con người ta sống động. Đó là những phạm vi có nhiều chất “triết” hơn, vì người ta đã bắt đầu đi xa hơn cảm giác trực tiếp của người thấy sao nói vậy.
Nhân nói đến chất “triết”, sau đây tôi xin đề nghị tạm dùng hai kiểu nói là “thấy gần” và “nhìn xa”: khi ta dừng lại cảm giác trực tiếp, thì gọi là thấy gần, khi vượt ra xa hơn tầm cảm giác để nhìn lên chiều cao hay nhìn xuống chiều sâu, thì gọi là nhìn xa, và đây là bắt đầu đụng tới chất “triết”.
1.1 - Về vũ trụ quan: thế giới siêu nhiên
Tác giả xếp vào trong thế giới gọi là siêu nhiên hai loại đối tượng không hoàn toàn giống nhau. Một loại thấy gần thì thuộc hẳn về phạm vi cảm giác, nhưng lại gợi ý cho ta nhìn xa theo hướng những thực tại vô hình. Loại này gồm có: trời, đất. Loại thứ hai gồm những thực tại vô hình, nhưng lại thấy có liên hệ đến những hiện tượng vật chất mà ta cảm giác được. Loại này gồm có: thần, ma, quỉ, hương hồn ông bà tổ tiên.
Trời đất nói chung là môi trường sinh hoạt của con người “đầu đội trời, chân đạp đất”, được “trời che đất chở”. Trông vào trời đất tôi trộm nghĩ là ta có thể vừa “thấy gần”, vừa “nhìn xa”.
TRỜI. - Về chữ “trời” thì cha Cadière đưa ra mấy chục kiểu nói để xác định rằng người Việt dùng nó theo nhiều nghĩa. Thứ nhất là để chỉ vòm trời vật chất có hình sắc mà ta thấy ở trên đầu ta: đó là thấy gần. Thứ đến thì có thể nhìn xa, có thể hiểu rộng ra, để chỉ một khí lực tự nhiên được nhân cách hóa, gọi là “ông trời”: ông trời ở chỗ “cao xa”. Sau đó còn là để chỉ nguyên lý quan phòng cho vận mệnh con người, như trong những kiểu ta nói: “sống chết ở trời”, “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, “trời biết”, “kêu trời”, v.v... Riêng về điểm này, tác giả cho rằng một phần cũng là do ảnh hưởng Trung Quốc - chữ “Thiên” - mà ý thức dân gian Việt Nam đã đạt tới điểm tối cao, là quan niệm trời như là vừa có trí thông minh, vừa có lòng tốt, lại có đức công bình và thông biết mọi sự. Tuy vậy, theo như tác giả, ngôn ngữ nói lên không làm cho ta biết nguyên lý này có phải là một vị có nhân cách, vô thủy vô chung và là nguồn gốc vạn vật hay không. Sau cùng thì còn có một vài kiểu nói có tính cách nịnh bợ, như: “oai trời”, “lộc trời”, “đèn trời”.
Cũng trong cái “nhìn xa” đó, khi các giáo sĩ đạo Thiên Chúa vào Việt nam, thì nhận thấy rằng chữ “Trời” của ta, cũng như chữ “Thiên” của người Tàu, thì chưa đủ ý để nói về vị tối cao mà mình tôn thờ, vì vị đó vô hình vô sắc, không thể đồng nhất với vòm trời xanh có tính cách vật chất, cho nên muốn nói cho đúng thì phải dùng chữ Hán “Thiên Chủ”, hay là “Thiên địa chân chủ”, dịch sát ý sang tiếng Việt là “Chúa Trời”, hay là “Chúa thật trời đất”. Nhưng khi dùng tiếng Việt thì thấy cần phải thêm vào cái tên gọi đó hai điểm. Một là thêm chữ “Đức” ở đàng trước: “Đức Chúa Trời”, để nói lên lòng tôn kính, chứ không dám gọi “xách mé” là “Chúa Trời” hay như kiểu người Tàu là “Thiên Chủ”. Hai là đọc chữ “Chủ” là “Chúa”, có lẽ vì vào thời Nam Bắc phân tranh, vua Lê chỉ có chức mà không có quyền, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mới là người có quyền thực sự.
ĐẤT. - Tác giả trưng ra khá nhiều kiểu nói để chỉ về đất theo nghĩa thông thường, như: đất sét, đất nước (quê nhà), đất khách (quê người). “Thấy gần” là như thế. Nhưng “nhìn xa” là nhận ra ảnh hưởng bí mật linh dị của đất lên vận mệnh của con người; có tai họa gì trong làng xóm thì người ta cho là “tại đất”. Từ đó đi tới quan niệm là có nhiều thần có liên hệ đến đất, như: thổ chủ, thổ thần, ông địa. Do đó có những điều phải kiêng kỵ trong ba ngày đầu năm, như khi đã rước ông bà về trước khi giao thừa, thì đóng cửa lại, và chỉ để cho bạn bè và những người khả kính vào mà thôi, còn những người khác nhất là người hành khất thì không được vào “đạp đất”. Thêm vào đó thì các thần có liên quan tới đất đều có ảnh hưởng đến vận mệnh người chết nữa. Cho nên người ta coi đất, chọn đất chôn, để người chết được yên mồ mả, đồng thời cũng kiêng không chôn bất cứ ai vào đất của làng, sợ phạm đến thần đất.
THẦN (Génies). MA (Esprits). QUỈ (Démons). - Đây là một phạm vi những khí lực vô hình, rất mênh mông, có lẽ nhiều chất tôn giáo hơn là chất triết lý. Cả ba tên gọi đều là chữ Hán, tuy vậy nội dung cũng có nhiều sắc thái Việt Nam. Dù sao dịch ra tiếng Pháp như thế cũng không sát ý cho lắm.
Các thần thì rất nhiều - nhất là các thần trong đạo Lão - đâu đâu cũng được tôn thờ, ở bình diện tư gia, làng xã, cũng như quốc gia. Nhà vua xưa kia thường kiểm soát bằng cách ban sắc phong và phân loại cho các thần có công với đất nước, và loại bỏ những thần không hợp với lễ giáo, ví dụ như các dâm thần trong dân gian. Thường thì là các khí lực thiên nhiên được nhân cách hóa, như thần đất, thần núi, thần sông thần biển, thần cây cối. Có những thần có liên hệ nhiều đến nếp sống, như bà Đại Càn, Táo thần, mười hai bà mụ coi về việc sinh nở. Lại có những thần vốn là người, nhưng có công với đất nước cho nên lúc chết được thành thần. Người ta thường quan niệm các thần như thế là phúc thần, có uy lực để giúp đỡ nhân dân, chứ không làm hại người ta, như ma, như quỉ.
Chữ “ma” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Có thể là xác chết, như trong kiểu nói: đám ma, làm ma, v.v... Cũng có thể là những cô hồn, là hồn những người chết oan uổng vì tai nạn, như bị cọp bắt, bị chết đuối, chết đường chết chợ, mà không được tống táng hẳn hoi, không có ai cúng, cho nên thành ma đói, có điều uất ức, thường làm hại người sống. Nếu đối với thần thì người ta tôn kính và làm lễ tế, thì đối với ma không có tôn kính, mà chỉ có kinh sợ mà thôi, và vì thế người ta hay dọa ma trẻ con. Muốn sống cho yên, người ta phải nhờ thầy phù thủy làm môi giới để biết cách xử sự, phải cúng như thế nào - cúng, chứ không tế - phải làm lễ vớt hồn hay di mộ đi chỗ khác cho yên. Người ta cũng quan niệm rằng ma quấy nhiễu người sống là để đòi phần mình cho công bằng, vì thế ma hay báo oán, như kiểu nói “quỉ tha ma bắt”. Tuy vậy người ta vẫn nghĩ rằng có thể đánh lừa được ma, ví dụ trẻ em khó nuôi vì bị ma quấy rầy, thì có thể gọi nó bằng cái tên thô tục, hay là bán khoán nó cho người khác hay cho nhà Phật, rồi khi lớn sẽ xin chuộc lại.
Quỉ thì cũng gần như ma, nhưng dữ tợn hơn: “nhất quỉ nhì ma”. Có những kiểu nói, như: “thằng quỉ” (để chửi nhau), “nghịch như quỉ”, “nước đái quỉ”, v.v...
Xét theo kiểu nói bình dân như thế, ta thấy không giống hẳn như quan niệm tâm lý học của người Tàu, cho rằng người ta có hai thứ nguyên lý làm cho sống động, là hồn và phách: hồn là phần trên, phách là phần dưới, sau khi chết thì hồn có thể thành thần, còn phách thì thành quỉ.
Đến đây, về thế giới siêu nhiên, tôi xin đưa ra mấy nhận xét có liên hệ đến việc hội nhập văn hóa của đạo Thiên Chúa.
Như đã nói trước đây, vị tối cao được tôn thờ, thì gọi sang tiếng Việt là “Đức Chúa Trời”, gọi kiểu Hán Việt là “Thiên Chúa”, chứ không gọi là “Thần”, như trong một vài bản dịch sang chữ Hán, vì vị đó khác xa và không thể lẫn với các thần trong tôn giáo thông thường. Dịch như thế là chí lý. Nhưng ngược lại, lối dịch “vơ đũa cả nắm” - bắt đầu từ Alexandre de Rhodes - gọi tất cả những sự vật hay nhân vật khác được tôn thờ là “bụt thần ma quỉ” thì thiết tưởng là lối dịch không chỉnh, vừa sai ý, lại vừa gây ra nhiều hiểu lầm, vì có người lại hiểu « bụt » là « Phật », và cho đó là bất kính đối với Đức Phật.
Nên chú ý là cha Cadière phiên dịch “ma” là “esprit”, như thế cũng thật là rầy rà. Chẳng lẽ lại dịch “Saint Esprit” là “Ma Thánh” hay “Thánh Ma” ! Người Tàu cũng có dùng chữ « linh » để phiên dịch các chữ: “spirituel”,  “efficace”, “âme”. Còn ở Việt Nam thì ta đã dịch “Saint Esprit” là “Thánh Thần”, “Thánh Linh” hay “Thần Khí” (nhưng chữ này lại cũng đã dùng trong Kinh Cầu để dịch chữ “peste” (dịch tễ) ! Đủ biết là còn nhiều điều rắc rối.
1.2 - Về nhân sinh quan
Về con người, thấy gần là thấy các cơ thể trong thân thể, còn thấy xa là nhận ra các nguyên lý làm cho con người ta sống động.
Thân thể người ta.
Tên gọi các phần thân thể thì thường trong ngôn ngữ nào cũng hay được dùng theo nghĩa bóng, căn cứ vào vị trí trong bộ máy sinh lý, như trên hay dưới, trước hay sau, ngoài hay trong, để nói về những thái độ hay vị trí không có tính cách vật chất. Vị trí ở trên cao, như cái “đầu” thì dùng để chỉ những cái mình coi là cao quí, cao trọng, quan trọng, như trong kiểu nói: “làm đầu”, “đứng đầu”, “bắt đầu”, câu truyện “có đầu có đuôi”. Cái “mặt” thì ở bên ngoài, cho nên dùng để chỉ những cái được biểu lộ ra bên ngoài. Tên nhiều cơ quan khác trong thân thể cũng được dùng theo một kiểu như thế, ví dụ như: “có gan”, “có tai mắt”, “có đầu óc”, “có mặt”, “có chân” (trong một tổ chức), “ra tay”, “biết tay”, v.v... Cha Cadière đã chú ý vào một điểm đặc biệt, là nếu người Việt dùng ba kiểu nói để chỉ cùng một vật, như “trăng”, “ông trăng”, “mặt trăng”, thì ba kiểu nói: “trời”, “ông trời” và “mặt trời” thì lại chỉ về ba thực tại khác nhau.
Cái vị trí trong hay ngoài cũng rất quan trọng: cái ở ngoài là cái ta có thể cảm xúc trực tiếp được, còn cái ở trong thì không thấy được, nhưng ai nấy đều đinh ninh rằng nó ở bên dưới hay bên trong cái ở bề mặt. Vì thế có mấy từ ngữ, như: “lòng”, “dạ”, “bụng”, rất thường được dùng để chỉ những thực tại vô hình vô sắc ở bên trong, như trong các kiểu nói: “đau lòng”, “phiền lòng”, “phải lòng”, “lòng ghen ghét”, “lòng độc”, “lòng tốt”, “phỉ dạ”, “hả dạ”, “xót dạ”, “tốt bụng”, “xấu bụng”, v.v... Đối chiếu với ba từ ngữ tiếng Việt đó thì ta cũng quen dùng một từ ngữ Hán Việt là “tâm”, để chỉ những thực tại vô hình vô sắc ở chiều sâu, như trong những kiểu nói: “tâm linh”, “tâm lý”, “tâm tính”, “tâm tình”, “tâm thức”, “tâm hồn”, “tâm trí”, “để tâm”, v.v..., còn chữ “tim” thì chỉ dùng để chỉ cơ quan sinh lý vật chất.
Có lẽ điểm đặc biệt nhất trong tiếng Việt - có lẽ không đâu có - mà cha Cadière nhận ra là về những từ ngữ dùng để chỉ thân thể người ta. Ngoài hai chữ Hán Việt là “thân” và “thể”, hay “thân thể”, thì tiếng Việt có riêng hai từ ngữ, là “mình” và “xác”. Chữ “xác”, cũng như “thân thể” và “thân xác”, thì dùng để chỉ cái xác vật chất, cũng như chữ “mình mẩy”. Nhưng riêng chữ “mình”, cũng như chữ “thân”, thì dùng để chỉ cái chủ thể, cũng như tiếng Pháp là “soi”, tiếng Anh là “self”, tiếng Đức là “selbst”, và điểm đặc sắc ở đây trong tiếng Việt là khi nói đến cái chủ thể, thì dùng chữ “mình”, là chữ luôn nhắc nhở cho ta rằng phải có “mình mẩy” thì cái chủ thể, thường tự xưng là “tôi”, “tớ”, “ta”, mới nói lên được như thế, mới có thể tự xưng là “mình”, hay cũng có thể gọi người khác là “mình” được. Có thể nói rằng về điểm này thì cái minh triết của người Việt, bột phát trong ngôn ngữ, đã nhận định ra tính cách thống nhất của con người, nghĩa là không có theo chủ trương lưỡng nguyên, mà cho rằng không những con người được kết cấu nên do hai thành phần biệt lập, là xác và hồn, như trong nhiều văn hóa cổ điển Tây phương, mà hơn nữa lại cho rằng cái hồn có thể tồn tại một mình, biệt lập ra ngoài một thân xác nhất định, và vì thế cho nên có thể lần lượt đầu thai vào nhiều thân xác khác nhau.
Nhưng cái minh triết đó hình như không được tư tưởng khai thác cho thành một triết lý riêng, tôi trộm nghĩ có lẽ là vì lớp sĩ phu của ta đã sớm theo tư tưởng triết lý bằng chữ Hán, cho nên không có triết lý riêng bằng tiếng Việt. Dù sao thiết tưởng cha Cadière, tuy đã nhận xét ra, nhưng cũng không đánh giá cái đặc điểm ấy cho đúng mức, theo như triết lý Tây phương ngày nay, có lẽ vì cha đã không chuyên môn về triết lý Tây phương từ thời Phục Hưng trở đi, lại càng không am tường triết lý từ hiện tượng luận về sau này.
1.3 – Về các nguyên lý làm cho con người ta sống động
Đây là phạm vi có nhiều chất triết lý hơn.
Trong phần này (trang 167-205), tác giả phân tích khá tỉ mỉ những từ ngữ như: “hơi”, “khí”, “hồn”, “phách”, “vía”, và những kiểu nói có liên hệ đến các từ ngữ ấy.
Riêng về chữ “hơi” và chữ “khí”, thì tác giả đã đưa ra khá nhiều ví dụ và đã để ra hơn mười trang để bàn đi luận lại. Để đánh giá tầm thước của mỗi từ ngữ, tác giả dùng lý thuyết phân biệt ý nghĩa ra làm năm bình diện: vật lý (physique), sinh lý (physiologique), tâm lý (psychologique), vũ trụ luận (cosmologique) và bình diện siêu nhiên (surnaturel). Đại khái, tác giả cho rằng từ ngữ nôm na Việt Nam, ví dụ như chữ “hơi”, thì tự nó chỉ nằm ở hai bình diện vật lý và sinh lý, còn từ ngữ Hán Việt, như chữ “khí”, thì nhờ vào ảnh hưởng của tư tưởng người Tàu, mà vượt được lên bình diện tâm lý và lên xa hơn nữa, và rồi cũng ảnh hưởng sang cách dùng chữ “hơi” nữa. Rốt cục thì hình như tác giả cho rằng người Việt đã lẫn lộn cả năm bình diện, lý do là vì không có đầu óc triết lý như người Tàu: và đây là điều mà tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Tác giả giải thích cái lẫn lộn đó như sau: “Cái ý niệm còn mù mờ này (nguyên lý làm cho sống động), thì mỗi cá nhân, nhờ vào ảnh hưởng của nguyên lý nhân quả, mà dần dần chuyển nó thành ra một quan niệm trông trống về một nguyên lý hoạt động từ bên trong con người và làm cho người ta sống và động. Chính vì đã lý luận sai ngay từ trong ngôn ngữ, cho nên người Việt Nam đã cho rằng cái hơi thở cũng chính là cái nguyên lý làm cho sống động; nhưng cả hai cái cũng phải cùng có một lúc với nhau, thì mới lý luận được như thế. Tôi nghĩ rằng như vậy ta hiểu được vì sao khi dùng cùng một từ ngữ thì người Việt Nam đã lẫn lộn hai ý tưởng, rồi cho rằng cái hơi cũng chính là nguyên lý làm cho sống động” (trang 175). Tuy vậy, hình như là để vớt vát lại, tác giả viết: “Ngược lại, ta phải công nhận rằng cái ý tưởng đó (“hơi/khí”) đã ít nhiều được thấm nhuần vào ý nghĩa siêu nhiên, có tính cách siêu việt đôi chút, thì nó vốn đã có mầm mống ngay trong các ý nghĩa thông thường của chữ hơi” (trang 176), chứ không phải hoàn toàn là do ảnh hưởng của tư tưởng Trung Quốc.
Thiết tưởng không cần đi vào chi tiết khá rối ren, mà chỉ cần đưa ra cái kết luận dứt khoát sau đây:
 “Ở đây ta nghiên cứu về những ý tưởng bình dân; nhưng, theo như tôi nghĩ, người bình dân không ý thức được rằng có hai nguyên lý khác nhau, vì đó là sản phẩm của suy tư triết lý; cùng lắm thì ta có thể công nhận rằng, trong minh triết bình dân, thì người ta tin rằng có hai thứ ảnh hưởng, một cái tốt, một cái xấu. Và có lẽ ta phải coi hai cái ý tưởng, cái tốt và cái xấu, là căn nguyên của tất cả các hệ thống lưỡng nguyên của triết lý của người Tàu. Cái ý tưởng căn bản cần phải ghi lấy là thế này: tất cả các vật, cũng như mỗi vật trong trời đất, thì đều có một cái hơi, một cái ảnh hưởng, được coi như là hơi thở (souffle); rồi thì vũ trụ cũng có một nguyên lý (principe) làm nên nó, và cũng được coi như là hơi thở, cũng như con người có một nguyên lý làm cho nó sống động, nhưng người ta lại lẫn nó với cái hơi (haleine), vừa là hơi thở, vừa là hơi hám. Cái ý tưởng đó đã tiềm tàng sẵn trong chữ hơi; khi người bình dân dùng chữ này, thì không sao phát triển được cho hết cái ý tưởng đã có mầm mống trong đó; nhưng nhờ vào chữ khí của các triết gia người Tàu, thì phát triển được. Tất cả triết lý của người Tàu thì đều căn cứ vào cái quan niệm (notion) về hơi thở, về ảnh hưởng, về nguyên lý: nguyên lý dương và nguyên lý âm, hơi thở đem lại sức sống và hơi thở nhận được sức sống, hơi thở nhiệt và hơi thở hàn, nguyên lý sáng và nguyên lý tối, hơi thở dãn ra và hơi thở co lại, v.v... Đó là phát triển một cách có lý sự những ý tưởng đã in sâu vào ý thức của người bình dân” (trang 178). Từ đó tác giả đề nghị phương trình thức sau đây: “Hơi và hơi thở (vapeur et souffle) = hơi bốc lên (émanation) = ảnh hưởng tự nhiên hay siêu nhiên = nguyên lý làm cho sống động (principe vital) = hơi hám (haleine)” (trang 178). Và tác giả đi tới kết luận: “Tất cả các phần trong phương trình thức đều được nối kết với nhau nhờ vào cái ý tưởng chung, là: cái hơi bốc lên. Cái phương trình thức này tóm tắt được cái minh triết bình dân Việt Nam, và có lẽ cả triết lý của người Tàu trong phạm vi tâm lý học nữa. Và hình như nó còn giải thích được cả quan niệm người Việt Nam về cái siêu nhiên” (trang 178).
Tác giả để ra ba trang (178-180) để bàn về chữ “khí” của người Tàu và cho rằng các ý nghĩa phong phú của nó rốt cục thì đã lẫn sang chữ “hơi” của người Việt.
Sau đó tác giả bàn về “hồn”, “phách”, “vía”, qua khá nhiều kiểu nói. Nhưng không thấy đưa ra được quan niệm rõ rệt về các yếu tố đó. Những kiểu nói như “ba hồn bảy vía” hay “tam hồn thất phách”, chỉ là kiểu nói chung chung, chứ không cho biết đích danh các thứ hồn, phách, vía, là như thế nào, và mỗi cái có công dụng hay chức năng ra sao. Vì có ba hồn, cho nên tác giả không dịch “hồn” sang tiếng Pháp là “âme”, nhưng là “principes vitaux supérieurs”, dịch “phách” và “vía” là “principes vitaux inférieurs”. Lại vì hình như không biết người Việt hiểu ba hồn trong một con người như thế nào, cho nên tác giả đành hiểu ba hồn theo đúng như truyền thống triết lý hơn hai nghìn năm ở Âu châu, là “sinh hồn” (âme végétative) của loài thảo mộc, “giác hồn” (âme sensitive) của loài động vật, và “linh hồn” (âme intellective) của loài người.
2 - Việt Nam có triết lý hay không?
2.0 - Một vấn đề gai góc
Như mới trình bày tóm tắt trước đây, cha Cadière đã viết ra khá nhiều trang về các phần trong thân thể người ta, nhất là về giác quan và nêu ra được nhiều kiểu nói rất hay, rất ý nhị. Có lẽ đặc sắc nhất là về cái miệng: miệng để nói (trang 119-123), miệng để ăn (trang 123-130), miệng để nếm (trang 130-132). Nhưng có lẽ rồi nhân đó “vui miệng”, cha đã đưa ra một vài ý kiến tổng quát làm cho độc giả người Việt phải chột dạ.
Ví dụ như đoạn văn sau đây. Cha viết: “Thiết tưởng, từ những câu nói mà tôi vừa trưng dẫn ra đây, ta có thể rút ra một vài kết luận về đặc tính chung của nòi giống Việt Nam. Người Việt thường hay dùng chữ “ăn” và coi việc ăn là thật quan trọng, làm cho ta có thể kết luận rằng nòi giống Việt Nam để tâm lo lắng về những cái vật chất nhiều hơn là về những cái tinh thần. Người Việt Nam coi việc ăn là một trong những mục đích quan trọng vào bậc nhất trong hoạt động của con người. Người Việt không suy xét riêng về nhân sinh. Đối với họ thì tất cả đời người, kể từ hoạt động trong hầu hết các ngành, cho đến cách thức cư xử đối với người khác, tất cả chỉ có một mục đích là để ăn, hay được cụ thể hóa ra trong cách nói cách ăn. Hình như dân Việt Nam có ý để dành cho các dân tộc khác tất cả lòng hào hiệp trong hoạt động, tận tâm trong việc nghĩa, hi sinh cho một lý tưởng; họ chỉ làm để ăn mà thôi”.
Có lẽ cha đã nhận ra rằng nói như thế là nói quá lời, cho nên để vớt vát, cha giải thích rằng vì sống ở một nước nghèo cho nên người Việt ta rất bận tâm lo việc ăn. Cha cũng biết rằng có nhiều từ ngữ thuần túy Việt Nam đã được thêm ý nghĩa triết lý từ chữ Hán chuyển sang. Sau cùng thì cha viết thêm: “Đàng khác không phải là tôi không biết rằng người Việt cũng có tinh thần vô vị lợi, và những tình cảm và ý tưởng cao thượng”. Thực ra, cái minh triết dân gian thì đâu đâu cũng thế, vì nói cho cùng thì nếu ta tìm trong các kiểu nói bình dân của người Pháp, nhất là những kiểu nói không dùng đến những từ ngữ gốc Hi-lạp hay La-tinh, thì ta cũng có thể đi tới kết luận tương tự.
2.1 - Xét trong quá khứ
Trong câu trưng dẫn ở đầu bài này, ta đã thấy tác giả nhận xét rằng người Việt đã hấp thụ văn hóa và tư tưởng của người Tàu, nhưng kể là đã không đóng góp gì thêm vào đó. Các học thuyết, kinh điển, truyền sang thế nào, thì tiếp nhận như thế, mà không tranh luận gì cả, và thường thì không hiểu cho đúng, lại cũng chẳng đào sâu thêm nữa. Trừ mấy tác phẩm về luân lý ra, thì không có tác phẩm triết lý nào gốc từ Việt Nam mà ra. Nói thế có nghĩa là người Việt Nam không có một hệ thống triết lý, không có những học thuyết có thể xếp thành một bộ môn, không có một triết học có lý sự, tóm tắt được những nỗ lực tìm tòi, suy tư, ngưỡng vọng, của tâm hồn người Việt. Có chăng thì chỉ là thứ minh triết bình dân bộc phát ra trong ngôn ngữ thông thường.
Tôi không dám chắc hẳn một cách dứt khoát là như thế, vì cái học của tôi còn thiếu sót, không biết trong các sách cũ ở Việt Nam về Khổng học, về Đạo học hay Phật học trước thế kỷ XX, có những tư tưởng triết lý gì đặc biệt do người Việt Nam đóng góp hay không. Có điều chắc, là người mình đã bắt đầu học đọc học viết bằng chữ Hán, cho nên có lấy lại kinh điển bằng chữ Hán của tam giáo thì cũng là chuyện thường. Rồi trong tám chín thế kỷ, sau khi độc lập ra khỏi Trung Quốc, sách vở viết ra về đạo giáo, về lịch sử, về địa chí, về hình luật, thì cũng lại cứ dùng chữ Hán, chứ không mấy ai nghĩ đến việc dùng chữ nôm.
Nếu quả thực là người Việt không đóng góp bao nhiêu vào tư tưởng của người Hán tộc đưa sang, thì đó cũng là điều dễ hiểu. Thực vậy, người mình sống ở ngoài biên cương Trung Quốc, cứ nơm nớp sợ người ta lấy thịt đè người, sợ mất nước, cho nên sĩ phu không có nhiều cơ hội tiếp xúc với người Tàu; mà người Tàu, nếu không có tham vọng đồng hóa thì cũng chẳng có lý do gì để truyền cho người mình cái học thuật của họ. Ngược lại, nhà Minh đã thừa cơ nhà Trần và nhà Hồ yếu thế, mà chiếm đóng nước ta và tịch thu sách vở của ta. Rốt cục thì không tham gia được vào các trào lưu tư tưởng của Tàu, lại ít trao đổi, cho nên chỉ biết được một ít sách Tàu mà thôi, chứ không biết nhiều, thành ra biết gì thì giữ nấy, thế thôi. Còn về mặt tư tưởng triết lý, nếu đã dùng chữ Hán thì tất nhiên là tư tưởng theo như người Tàu.
Nhưng cho dù có tham gia được một cách tích cực và rộng rãi vào các trào lưu tư tưởng bên Trung Quốc, thì kết quả cũng chưa chắc đã đi đến đâu. Vì rằng về cuối bài, để kết luận, cha Cadière có nói đến tư tưởng Tàu như sau: “Để tìm hiểu hệ thống vũ trụ luận của các triết gia Trung Quốc, chúng tôi vấp phải cái khó khăn, cũng như khi muốn nói lên cho rõ những tư tưởng thông thường ở Việt Nam, có đơn sơ hơn thật, nhưng cũng vẫn rối rắm như thế, về bản tính con người và về bản tính vũ trụ. Triết lý của học giả trong các môn phái thì cũng vẫn giữ lại cái đặc tính của minh triết dân gian; tư tưởng người Tàu có biến chuyển, nhưng rồi rốt cục thì cũng đi tới một chỗ tương tự như khởi điểm vậy”.
Về điểm này tôi xin phép bàn rộng ra: có lẽ chính triết lý của người Tàu, dù có uyên thâm, cũng không đi xa được lắm, là vì xã hội phong kiến chưa có ý thức dân chủ, bình đẳng, như người Hi-lạp cổ, cho nên ai có uy quyền thì coi là cũng có uy tín, như thần dạy thánh phán, cho nên không ai được phê bình.
Đàng khác, cái học bằng chữ Hán của người mình khi xưa lại là cái học từ chương, để thi đỗ ra làm quan trị dân, hay là để làm văn làm thơ tiêu khiển. Những suy tư về vận mệnh con người thì lấy ở sách Tàu, chứ có lẽ không có ai nghĩ đến việc trao đổi với cái vốn liếng minh triết của lớp bình dân nói tiếng Việt. Văn chương thi phú thì thật có dùng chữ Nôm, để “mua vui một vài trống canh”, nhưng cũng vẫn còn dùng khá nhiều chữ Hán, nhất là thơ Thiền. Thường thì lấy lại những tư tưởng về định mệnh, duyên kiếp, về sự đời chóng qua, như “vó câu qua cửa sổ”, đưa đến thái độ nhẫn nại, chịu đựng. Vì thế cũng không phát triển cái minh triết bình dân cho nó thành ra lối suy tư có lý sự, có hệ thống, thành triết lý Việt Nam. Thiết tưởng đó là tình trạng tư tưởng Việt Nam mà cha Cadière đã quan sát thấy.
2.2 - Nhìn về tương lai
Nhưng từ đó mà chủ trương rằng người Việt, với cái ngôn ngữ như thế, thì chỉ có cái minh triết bình dân, chứ không có triết lý, thì tôi trộm nghĩ là nói hơi quá lời. Có lẽ nên dè dặt hơn mà nói là thời xưa chưa có hệ thống triết lý. Nếu có cái thiếu sót, thì thiết tưởng là vì thiếu điều kiện văn hóa chính trị và thiếu người triết lý, chứ không phải tại ngôn ngữ. Thực ra, ngôn ngữ nào cũng có cái lý sự riêng, cái minh triết của nó. Đó là điều người Hi lạp đã nhận ra khi họ dùng một từ ngữ “logos”, vừa để chỉ cái “Lý sự”, vừa để chỉ “lời nói”, “từ ngữ”: từ ngữ dùng để phân loại sự vật cho có thứ tự, rồi có văn pháp để chắp nối từ ngữ cho ra câu cú, làm cho người ta tư tưởng có mạch lạc. Nói lên được thứ tự và mạch lạc là tìm ra cái lý sự trong sự vật. Nhưng nếu chỉ có thế, thì chưa đi tới triết lý có hệ thống.
Muốn đi tới triết lý, - cũng như đi tới khoa học, kỹ thuật, luân thường đạo lý, v.v... - thì cần phải đi thêm mấy bước nữa.
Một là: phải có người đứng ra đặt vấn đề suy nghĩ xa hơn cái trông thấy trước mắt, ví dụ như về nguồn gốc, về tương lai hay là về nền tảng của vũ trụ và vận mệnh con người.
Hai là: vì suy tư triết lý ăn rễ vào một cộng đồng ngôn ngữ, với những kiểu nói và minh triết đã có sẵn, cho nên nó không phải của riêng một cá nhân nào; mình dùng ngôn ngữ chung, để riêng mình suy tư, nhưng căn bản và kết quả là của chung, nói lên thì người khác nghe hiểu được và có thể bàn luận được.
Ba là: vì phải đi xa hơn cái kinh nghiệm trực tiếp, cho nên phải đặt cho từ ngữ có sẵn đó một ý nghĩa mới, nếu không thì phải đặt ra từ ngữ mới.
Bốn là: phải có óc phê bình, để tự mình nhận ra chân lý, chứ không phải cứ người trên hay là ông thầy nói sao thì mình nói lại như thế. Và thiết tưởng đây là điểm quan trọng nhất. Chế độ quân chủ của ta đã bị chế độ thực dân chặt hết chân tay vây cánh, rồi sau cùng đã bị chế độ cộng hòa truất phế, đó là hoàn cảnh thuận lợi để tư tưởng triết lý phát triển.
Như thế triết lý là một phạm vi có từ ngữ chuyên môn, mà chuyên môn hoặc là vì có thêm ý nghĩa mới, hoặc là vì sáng tạo ra hay vay mượn được từ ngữ mới, từ văn hóa khác đưa tới.
Trong cuộc giao lưu văn hóa thì các dân tộc thường vay mượn từ ngữ và tư tưởng của nhau, đem vào văn hóa của mình, rồi phát triển thành tư tưởng của mình.
Xin đan cử ra đây một ví dụ về triết lý Âu châu. Trước đây hơn 25 thế kỷ, khi có một số người Hi lạp bắt đầu suy tư một cách có lý sự, có đầu đuôi, có thứ tự mạch lạc, thì họ lấy từ cái vốn liếng từ ngữ và minh triết sẵn có, mà tạo ra từ ngữ mới. Họ có các danh từ để gọi tên sự vật, có các tĩnh từ để nói sự vật là thế nọ thế kia, nhưng phải tìm từ ngữ mới để nói lên rằng sự vật có thực đó. Và thay vì dùng chữ «có» như chúng ta, thì họ dùng chữ “là” (einai/esti): chữ này vốn dùng để nối hai sự vật tương đồng, nhưng nếu dùng cụt ngủn về một sự vật, thì nó có nghĩa là “có thực đó”. Người La-tinh cũng theo đó mà dùng chữ “là” (esse/est) như thế.
Rồi sau khi đế quốc Rôma sụp đổ thì các bộ lạc Âu châu chưa có chữ viết, liền học lấy tiếng La tinh và văn hóa cổ điển. Cách đây chừng 7, 8 thế kỷ, - cũng vào thời kỳ mà ông cha chúng ta bắt đầu dùng các bộ gốc chữ Hán, sáng chế ra chữ Nôm để viết tiếng Việt - thì người Âu châu đang thấm nhuần văn học cổ điển, bắt đầu có ý thức dân tộc, và họ dùng mẫu tự La-tinh để viết tiếng nói của dân tộc họ, nhưng trong việc học vấn họ vẫn còn dùng tiếng La-tinh cho đến thế kỷ XIX. Khi đi vào triết lý thì họ cũng bắt chước người xưa mà dùng động từ “là”, trong tiếng nói của họ, để chỉ cái “có thực đó”; người Pháp nói: “être/est”, người Đức nói “sein/ist” còn người Anh thì nói “to be/is”, v.v... Cũng như người Hi-lạp và người La-tinh đã biến thể cho chữ “einai” và “esse” thành các từ ngữ như “on” và “ens” để chỉ các “vật [có thực]”, như “ousia” và “essentia” để chỉ “yếu tính” hay “bản tính”, thì người Pháp, Đức, Anh cũng làm theo kiểu đó mà gọi “vật” là “être/étant”, là “Seiende”, hay là “being”, và gọi “bản tính” là “essence” hay “Wesen”, v.v..
Trong suốt thời Trung cổ, người Âu châu học tập và triết lý bằng tiếng La-tinh, họ trao đổi với nhau mà không biết đến ranh giới các nước. Vào quãng thời Phục Hưng thì một đàng thì họ vẫn dùng tiếng La-tinh, nhưng đàng khác thì họ bắt đầu viết bằng tiếng của dân tộc, như Ý, Pháp, Anh, Đức, và vay mượn rất nhiều từ gốc tiếng La-tinh và tiếng Hi-lạp. Nếu nhân vật ký tên là “Cartesius” chỉ viết sách triết lý bằng tiếng La-tinh, chứ không viết gì bằng tiếng Pháp, thì chưa có thể nói đó là triết lý Pháp. Nhưng khi cũng chính nhân vật đó viết sách bằng tiếng Pháp và ký tên là “Descartes”, thì mới kể là có triết lý Pháp. Tôi không thể quan niệm là có triết lý Pháp hay Đức, nếu không bao giờ có ai viết sách triết lý bằng Pháp văn hay Đức văn. Cũng thế, nếu ông cha chúng ta chỉ viết lách bằng chữ Hán, thì dĩ nhiên là để tham gia ít nhiều vào cuộc trao đổi tư tưởng với những người biết chữ Hán. Như thế hỏi có liên quan gì đến những người nói tiếng Việt?
Nay lại nói về triết lý ở Việt Nam. Ta biết kinh điển của tam giáo có nhiều chất triết, nhưng lại viết bằng chữ Hán, và trong khá nhiều thế kỷ không thấy ai phiên dịch ra tiếng Việt (chữ Nôm). Từ mấy chục năm nay, tôi đọc sách thấy nói là đạo Phật vào Luy Lâu ở đất Việt trước khi vào Lạc Dương và Bành Thành ở đất Tàu. Tuy vậy, có điều làm cho tôi thắc mắc, là nếu có sách vở gì nhắc tới, thì hình như là bằng chữ Hán cả, chỉ có người Tàu di cư sang đất Giao Chỉ và một số thật ít người Việt đọc được mà thôi. Không biết vào thời đó có ai nói ra tiếng Việt cho đại chúng nghe hay không. Cho nên không biết có gây ra truyền thống nào không. Chắc một điều là sau đó, các vua Việt Nam đã cho người sang Tàu rước vô số kinh Phật bằng chữ Hán đem về chép.
Trong hoàn cảnh đã trình bày trước đây, người mình kể là không tham gia vào các trào lưu triết lý và đạo giáo trong khu vực văn hóa chữ Hán, biết gì thì giữ nấy, lại cũng không khai thác cái minh triết gắn liền với ngôn ngữ riêng của mình. Chứ nếu đã có ai nghĩ đến việc phiên dịch ra tiếng Việt, viết ra chữ Nôm, thì tôi dám chắc là đã có nhiều thời gian, để khai thác cái vốn liếng minh triết có sẵn của mình, nhờ vào ảnh hưởng của văn hóa và tư tưởng ngoại lai, kể cả Trung Quốc, mà phát triển thành một luồng tư tưởng triết lý Việt Nam. Cũng như đúng vào thời ấy, người Âu châu đã nhờ vào triết lý Hi-lạp và La-tinh cổ điển, mà phát triển triết lý riêng, có in dấu dân tộc của họ, viết ra bằng ngôn ngữ riêng của họ. Nhưng đây chỉ là giả thuyết về cái quá khứ không trở lại nữa.
Nếu không có sách vở bằng tiếng Việt, viết theo lối chữ Nôm, hay lối chữ quốc ngữ dùng mẫu tự La-tinh, thì thiết tưởng tư tưởng Việt Nam khó mà phát triển được cái quốc học, như trong thế kỷ XX. Ý kiến của cha Cadière chỉ có thể đúng trong phạm vi quá khứ, chứ chưa chắc đã đúng vào lúc sau này, khi mà người Việt đã học hỏi nơi thiên hạ tứ chiếng, hấp thụ triết lý của người nước ngoài, rồi đã viết sách triết lý bằng tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh, nghĩa là bằng chữ quốc ngữ như ngày nay, cho người mình đọc. Dĩ nhiên là trong buổi đầu thì phải phiên dịch sách giáo khoa. Cái khó khăn của những bậc tiền bối trước đây hơn nửa thế kỷ là phải mò mẫm tìm cho được từ ngữ để dịch cho đúng ý, đồng thời dịch cho ra tiếng Việt. Nếu không thông hiểu ngoại ngữ, không am tường vấn đề triết, lại không thạo tiếng Việt, thì làm sao phiên dịch cho đúng ý? Có người cho rằng cứ dùng những từ ngữ triết học do người Nhật hay người Tàu đã chọn để phiên dịch từ các tiếng Âu châu. Cũng đúng một phần, nhưng ta nên biết rằng người phiên dịch thì thường không phải là người chuyên môn, cho nên dịch lấy được, và vì thế chưa chắc là bao giờ cũng hiểu rõ vấn đề và dịch cho đúng ý. Về vấn đề chọn từ ngữ triết lý cho tiếng Việt, thì có nhiều người đã có công đóng góp từ hơn nửa thế kỷ nay, nhưng tôi chỉ xin nhắc đến tên hai vị đồng nghiệp có cái học vấn nghiêm túc, mà nay đã quá cố, đó là Cao Văn Luận và Trần Thái Đỉnh.
Còn về sau này, thì tương lai triết lý Việt Nam là ở trong tay lớp người “hậu sinh khả úy”. Nhưng không phải chỉ có thế mà thôi. Trước đây người ta bảo là phải biết kính trọng các vị bề trên, như quân sư phụ, hay là Phật Tiên Thánh, bề trên nói sao thì mình chấp nhận như thế, thì ta thấy chính trong cái minh triết bình dân, tuy rằng chưa có óc hệ thống, nhưng cũng không đến nỗi thiếu cái óc phê bình. Không phải là phê bình bừa bãi một cách bất kính, nhưng dám phê bình từ những bậc thầy đã học chữ thánh hiền, nhưng đôi khi không giữ được đạo thánh hiền, cho đến những bậc tu hành lén lút phá giới. Chính cái óc phê bình như thế đã được cổ võ bên Âu châu, làm cho tư tưởng Âu châu phát triển, không những phê bình về mặt tư tưởng triết lý, như Descartes (1596-1650), Kant (1724-1804), mà cả về mặt thực hành tôn giáo, khi người ta lẫn lộn tín ngưỡng với mê tín, không phân biệt tôn giáo với chính trị, lấy cái này làm hậu thuẫn cho cái kia.
Nói tóm lại: cái minh triết vẫn còn đó và vẫn được tiếp tục phát triển. Nhưng cái triết lý là ở trong tay những người chịu khó suy nghĩ.
Tại một số nhà ngoài hai tượng của Ông Địa và Thần tài như bình thường , người ta còn thờ ở chính giữa ban thờ một vị như hình đầu tiên . Vị đó chính là Hoàng Thần Tài . Hoàng Tài Thần là hóa thân của Bảo Sanh Như Lai (Ratnasambhava) ngự tại Bắc phương trong Mandala tượng trưng Bình Đẳng Tánh Trí . Hoàng Tài Thần có 8 vị thần tướng vận chuyển về tài và Tứ Đại Thiên Vương theo hộ Pháp .

Có tất cả 5 vị Thần tài : Hoàng Thần tài , Bạch Thần Tài , Hỏa Thần Tài , Hắc Thần Tài , Lục Thần Tài . Trong đó :
” Hoàng Tài Thần chủ về PHÁP TÀI : Trì tụng chú của Ngài hành giả sẻ được tăng trưởng thêm về Phật Pháp và công đức cũng như tiền bạc , theo kinh điển Mật Tông thì ngài hiện thân trừ thiên ma quấy phá lúc Phật Thích Ca Mâu Ni lần đầu thuyết Bát Nhã Tâm Kinh , sau đó Thế Tôn thọ ký cho Ngài như nguyện làm Thiên Tài-Hộ Pháp
Bạch Tài Thần chủ về TÂM TÀI : Chủ trừ các phiền não về tài và hóa giải các định nghiệp .
Hỏa Tài Thần coi về ÁC TÀI : năng trừ các kẻ thù về tài , làm cho trí huệ tăng trưởng .
Hắc Tài Thần coi về TÀ TÀI : Chủ trừ các tà quỉ , oan gia đến báo vì tài .
Lục Tài Thần coi về YỂU TÀI : Năng trừ yểu mệnh vì tài .
Hoàng Tài Thần là hóa thân của Bảo Sanh Như Lai (Ratnasambhava) ngự tại Bắc phương trong Mandala tượng trưng Bình Đẳng Tánh Trí . Hoàng Tài Thần có 8 vị thần tướng vận chuyển về tài và Tứ Đại Thiên Vương theo hộ Pháp .
Bạch Tài Thần là hóa thân từ giọt nước mắt bên phải của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát (Tara Độ Mẫu là hóa thân từ giọt nước mắt bên trái), Bạch Tài Thần có 4 vị Đồ Cát Ni (Dakini), hộ trợ , vận chuyển về tài lộc .
Hỏa Tài Thần là hóa thân của Ngài Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva)
Hắc Tài Thần là hóa thân của A Súc Bệ (Akshobyah) Diệu Sắc Thân Như Lai , ngự tại hướng đông của Mandala tượng trưng Đại Viên Chủng Trí .
Lục Tài Thần là hóa thân của 1 trong Tứ Đại Thiên Vương .
Nếu Bạn có trì Chú của Chư Vị này , trước nên trì Kim Cang Tát Đỏa bách tự minh chú hay Đại Bi hoặc các thần chú linh cảm của Quán Thế Âm thì công năng sẻ tăng rất nhiều . Nếu chỉ thuần túy cầu xin tài lộc , chỉ trì tâm chú của Hoàng và Hắc Tài Thần là đủ rồi .
Hoàng Tài Thần Tâm Chú :
OM DZAMBHALA DZALENTRAYE SVAHA

Bạch Tài Thần Tâm Chú :
OM PADMA TROTHA ARYA DZAMBHALA SIDDHAYA HUM PHAT .

Hỏa Tài Thần Tâm Chú :
OM DZAMBHALA DZALIM DZAYA NAMA MUMEI E SHE E .

Hắc Tài Thần Tâm Chú :
OM JLUM SVAHA OM INDRAYANI MUKHAM BHAMARI SVAHA .

Lục (xanh lục) Tài Thần Tâm Chú :
OM DZAMBHALA DZALIM DZAYE SVAHA . ”

( Chép lại bài viết của Thày Sương Mãn Thiên )
Một bản Anh ngữ và bản lược dịch kèm theo mà dienbatn sưu tập được ( Quên mất nguồn ) nói về Hoàng Thần Tài như sau để các bạn tham khảo :
” The Lord of Wealth, Granter of Supreme Accomplishments
Establish the motivation
Main practice:
From emptyness appears a multicolored lotus
Upon which is a sun with a golden-yellow DZAM (on it)
I become golden Dzambhala with a semi-wrathful face
Right hand holding a citron fruit and
Left hand grasping a mongoose emitting a shower of jewels
Wearing a crown of the Five Buddhas
And adorned with a garland of blue utpala-flowers and many jewels and heavenly clothing.
Both feet pressing on the great treasures (such as) ‘Conch-Owner’ and ‘Lotus-Owner’
In my forehead is a white OM
The throat is a red AH
And in the heart is a blue HUNG
From these three syllables shine forth multicolored lights
The gathering of Wisdom-beings and the Empowerment-deities dissolves (into myself)

Visualization during mantra-recitation:
At the heart is a golden-yellow DZAM circled by a golden-yellow mantra garland with light radiating
Making offerings to all Buddhas and Bodhisattvas, gathering back their blessings
Purifying the obscurations of all sentient beings of the Three Realms
Establishing all in the state of Peace and accomplishing all the enlightened-activities
The light returns and dissolves into the mantra-garland and the seed-syllable

OM DZAMBHALA DZALENDRAYE SVĀHĀ
Offerings:
OM VAJRA ARGHAM/ PĀDYAM/ PUSHPE/ DHŪPE/ ĀLOKE/ GANDHE/ NAIVEDYĀ/ SHABDA/ PRATĪCCHA SVĀHĀ
Praise:
Lord of Wealth, owner of precious treasures
Master of many yaksha keepers of wealth
Guardian of the North, Protector Dzambhala
Wealth-deity, granter of supreme accomplishments – I prostrate and praise!

Dedication:
By this virtue, may I swiftly
Attain the state of the Noble Dzambhala
And (may I) establish all beings without exception
In that very same state ”
” zambhala đã hiện hữu trong vô số kiếp . Trong một tiền kiếp của Phật , Ngài chỉ là một gã đốn củi nghèo nàn . Ngài thực hành về thần chú Dzambhla , như một kết quả , Ngài trở thành một vị vua đầy quyền lực và giàu có .
Lúc ấy , với nhiều phương tiện trong tay , Ngài hành pháp Bố Thí Ba La Mật và đạt đến viên mãn pháp này . Ngài đắc quả Sơ Địa .
Do đó , Dzambhla , dù rằng là Bổn Tôn Tài Bảo Thịnh Vượng , nhưng được xem là Cha Mẹ Chư Phật , tượng trưng cho hạnh Bố Thí Ba La Mật của Chư Phật .
Dzambhla được Phật phú chúc vào thời gian sau khi Ngài nhập Niết Bàn , thường qua lại trong các cõi , ủng hộ chúng sinh tăng trưởng hạnh phúc thịnh vượng và hộ pháp .
Bản văn trên là một đoản tụng , có thể dành để gieo nhân duyên cho người thành tâm , chân thật thâm tín Phật Pháp .
Đi đến sự tăng trưởng hạnh phúc trong vật chất cùng tinh thần là con đường hướng thượng !
Tu là hạnh phúc với Trung Đạo , chớ chẳng phải gò ép xác thân , rồi bị xiềng trói trong một ảo kiến tự ngã vi tế !”


B/ Qua nhiều năm thực hành nghiên cứu , dienbatn thấy Thần Tài – Ông Địa có những đặc tính nổi bật sau đây :

1/ Tuy thờ cúng , bàn thờ để dưới đất , nhưng các vị này rất ưa chuộng sự sạch sẽ , sáng sủa . Chính vì vậy , trong quá trình thờ cúng , chúng ta nên giữ cho các vị này luôn sạch sẽ bằng cách tắm rửa thường xuyên bằng nước hoa thơm , xịt nước hoa . Một cách thấy có hiệu quả nhất mà dienbatn nghiệm thấy là khi Trời mưa to , các bạn bê Thần Tài , Ông Địa , Ông Cóc cho vào một cái thau sạch và để tắm mưa ngoài Trời độ 15 phút . Sau đó mang vào lau khô , xịt nước hoa và thắp hương xin . Nhiều lần thấy rất Linh diệu .
2/ Khi cúng Thần Tài – Ông Địa , người ta thường cúng nhiều thứ , nhưng dienbatn thấy có lẽ các vị này thích nhất là đồ ngọt , Thịt quay , bánh hỏi , chuối , bưởi . Có lần một vị về báo mộng xin cúng chuối , sau khi cúng là có lộc liền . Nếu bạn nào ở Sài Gòn , nên mua tiền giấy cúng riêng Thần Tài – Ông Địa , người ta làm sẵn cả một bộ , trong đó có tiền Quý Nhân ( Âm và Dương – Tức là những tờ giấy gập đôi màu đỏ có đục những hình Thần Tài khắp bề mặt ) . Thứ tiền này , dienbatn không thấy có bán ở miền Bắc .
3/ Cách thắp nhang : Khi mới lập bàn thờ , chúng ta nên thắp nhang liên tục trong 100 ngày để bàn thờ tụ Khí . Tuyệt đối không vì sợ tốn điện mà tắt đèn trên bàn thờ , vì những ngọn đèn đó giống như những ngọn Hải Đăng dẫn đường cho các vị giáng xuống . Trong 100 ngày đó mỗi sáng chỉ cần thay nước và thắp một nén nhang . Những lúc cần cầu xin điều gì thì thắp 3 nén cắm theo hàng ngang . Những ngày rằm , mùng một , lễ , tết thắp 5 nén theo hình chữ thập . Nên chọn loại nhang cuốn tàn ( giữ được tàn ) , sau một thời gian sẽ có bát hương rất đẹp và tụ Khí rất tốt . Chỉ đến ngày 23 tháng Chạp mới rút chân nhang và đem hóa cùng tiền giấy . Khi hóa xong nhớ đổ một chút rượu vào đám tro .
4/ Không để hoa , lá héo úa trên bàn thờ , vì khi đó dễ dẫn đến làm ăn khó khăn .
C/ CÁC BÀI CHÚ CẦU TÀI ĐỌC TẠI BÀN THỜ ÔNG ĐỊA – THẦN TÀI :
( dienbatn sưu tập và được thày Sương Mãn Thiên chỉ dạy ) các bạn có thể sử dụng :
Các loại Chú cầu Tài :
BẠCH Y THẦN CHÚ :
Câu chú này dùng tất cả trong những công việc của đời thường. Cầu xin may mắn , tai qua nạn khỏi .Cầu xin các Tổ nghề dạy nghề, Thỉnh Long Thần hộ Pháp…Đọc khi Khai trương, mở tiệm ,bán nhà , làm cho vợ chồng thương yêu nhau ,hộ thân , cầu mua may bán đắt , giải ếm , làm mồ mả, hay bất cứ công việc gì đều có thể được . Người thường chỉ cần tụng theo nghi ở dưới, riêng các Thày có thêm phần vẽ Phù Linh Thần.

BẠCH Y THẦN CHÚ :
(Nam mô đại từ đại bi – Tầm thinh cứu khổ, cứu nạn – Quảng đại linh cảm – Bạch Y Quán thế âm Bồ tát ) – 3 lần.
Nam mô – Bút đada – Nam mô – Đạtmada – Nam mô xănggada.
Nam mô – Arida – Avalôkitê – Xoarada – Tadactha.
( Ohm – Gara oata – Gara oata – Gaha oata – Raga oata – Raga oata – Xoáha ) – 7 – 21 –108 biến.
Thiên la Thần,
Địa la Thần.
Nhân ly nạn ,
Nan ly thân ,
Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Nam mô Bạch y Quán Thế Âm Bồ tát – Cảm ứng chứng minh cho con là……….tuổi…….. địa chỉ……..
( Xin gì thì nói ra ).

QUAN ÂM ĐỘ TRÌ GIA MÔN KINH
QUAN ÂM ĐỘ TRÌ GIA MÔN KINH ! Phật tử Quan Âm gia môn kinh , bảo ngả gia môn vạn sự hưng , bảo ngả gia nội đại phú quí , bảo ngả gia môn thêm tài đinh. Nhật nhật tụng kinh hửu thât’ biến , Thần Phật thính chi bất cam hiềm , tiền nhật hửu tội kim nhật giải , kim nhật giải tội hửu vạn biến. Nhật nhật tụng kin hửu thiên bàn , kháo Thần kháo Phật tối thái sơn ,nhất lai bảo nam nhị bảo nử , bảo ngả hợp gia độ bình an.Bái Phật bái Thần bái từ bi, cầu Thần cầu Phật lai bảo an , gia trung đại tế Phật lai bảo, gia nội hửu sự phất mạt khai. Bái đáo lô để hương hựu hương , bái đáo đăng quang trúc hựu hồng , bái đáo gia nội đại phú quí , bái đáo tử tôn đô bình an. Quan Âm trụ tại Phổ đà sơn , gia nội phụng kính đô nhất bàn , hửu nhân tụng đắc Quan âm kinh , thiên tai bách nạn tận tiêu hội. Quan Âm nương nương tại gia viên , tảo tảo vảng vảng nương phù trì , ma ha Phật tổ lai tứ phúc , tứ ngả gia môn phúc lộc tồn. Nam mô bồ tát ma ha tát, ma ha chư Phật bảo bình an. Nam mô a di đà Phật (7 lần) án ma ni bát di hồng , ma hắt nghê nha nạp , tích đô đặc ba đạt , tích đặt ta nạp , vi đạt rị cát , tát nhi cáng nhi tháp , bốc rị tất tháp cát nạp , bổ ra nạp nạp bốc rị ,thưu thất ban nạp nại ma lô kiết , thuyết ra da tá ha. (7 lần )
Trì Quan Âm gia môn kinh trên mổi ngày , giải tai ách chướng nạn , hưng vượng phú quí , tùy sở cầu mà có , cầu tài có tài , cầu con có con…….Thần Phật luôn ngự trị , phù trì nơi nhà mình.
CHÚ VÁI ĐẤT ĐAI , THỔ ĐỊA , THẦN TÀI .
( sáng chiều 2 lần thắp nhang cầu nguyện đọc 3 lần )
Nam mô Ngũ phương ngũ thổ Long Thần , Tiền hậu địa chủ Tài thần , Thành hoàng bổn xứ , Thành hoàng bổn cảnh , đất đai dương trạch , đất nước ông bà cảm ứng chứng minh phù hộ đệ tử ….(tên họ tuổi v.v…..) gia trạch bình an , thương mại hiệp thuận , đa khách đáo lai v.v…..
( Khi mình đi chổ lạ ngủ qua đêm hay ngủ nơi khách sạn v.v….cần vái câu này , cũng như là dùng lể ra mắt vậy )
CHÚ CẦU TÀI ĐỌC NGAY BÀN THỜ THẦN TÀI SÁNG CHIỀU .
Trương thần Táo , quan thần Địa , tài thần chí , chơn thân hạ giáng , hiện thân lai lâm hộ trì đệ tử (tên họ tuổi v.v……) cầu tài hưng vượng , vạn sự an khương ( 3 lần )
Ôm chên pa la cha linh cha na de xoá ha (21 , 36 , 72 , 108 lần bao nhiêu tuỳ mình , càng nhiều càng tốt , đây là tâm chú của HOÀNG THẦN TÀI )
CHÚ CẦU TÀI
Phụng thỉnh Tam Thanh giáo chủ cứu độ dương gian , trên ông Hắc Đế ra lịnh .
Nam mô Đông phương Thanh Đế
Tây phương Bạch Đế
Nam phương Xích Đế
Bắc phương Hắc Đế
Trung Ương Huỳnh Đế .
Thần Lôi , Long Thần , Tài Thần , Trạch Thần , Thổ Thần , ngũ phương ngũ thổ nghiêm trang chỉnh tề hộ độ đệ tử (tên họ tuổi ……),sở nguyện thành tâm , sở cầu thương mãi hiệp thuận , đa nhơn lai đáo (hay tài lợi sung mãn v.v….).
(Sáng ,chiều 2 thời đốt nhang ngay Đạo Tràng hay bàn thờ Thổ Thần đọc 5 lần mỗi khi )
Chú Cầu Tài Pali Nam tông (của Lục Cả Miên truyền).

Nắc mô ta sắ , phắ cá quá to , á rá há to , sam ma sam pút đa sắ (3 lần lạy Tam Bảo 3 lạy)
Ê mê hê ly ba thu ba ty , ca rê hê Pút Thăn Thơm Măn Son Khăn , a bi bớt cha đẹt mi ,
Pút Thăn mê ta
Thơm măn mê ta
Son khăn mê ta
Pút Thăn à nách
Thơm Măn à nách
Son Khăn à nách
Một kho luôn kha-nhum hon …( tên họ tuổi mình v.v…)ê hý mặc mặc . (đọc câu này 5 lần sáng , chiều)

Chú Thần Tài Xiêm (Thái Lan)
Nắ lư mô linh sa hảnh thù thăn lu cà fụt , danh là danh na sang thì sưởn lảnh ca , Nắ Mô Pút Thê Dắ .
( Nơi đây chúng tôi đã phiên âm từ chử Pali ra theo lối đọc của tiếng Việt , câu chú này có thể đọc 3 , 5 , 7 , 9 , 21 , 36 , 72 , 108 lần tùy ý mỗi ngaỳ , khi đốt nhang bàn thờ Tài Thần , Thổ Địa )
Hoàng Thần Tài chú (Tây Tạng)
Om Jăm Pa La cha linh cha na de xoá ha brum .
Chú kêu khách đến cửa hàng , tiệm quán của mình cho đông :
La ly a thô a úc kha mao ta da rô hô chặc bon sum chô dô lốt .
(sáng đọc 21 lần cúng bánh , kẹo , trái cây , rượu trắng , bắp rang ngay bàn thờ Thổ Thần hay ngay cửa .)

NHẬT KÝ WEBSITE

AM CÁC MINH - HỌC THUẬT và TÁC PHẨM

Loading...

THEO DÕI

| Copyright © 2013 BÁCH KHOA THƯ AM CÁC MINH