>

Sở楚 là Việt 越 ...là Văn-Lang

- Sở có phải là Việt Không ? 
- Phải.
Sử Ký Tư Mả Thiên ghi rỏ Sở và Việt đồng tông đồng tộc, ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau, sau nầy thì còn giống nhau 1/2, ngày nay tiếng Quan-thoại đã chiếm lỉnh vùng đất Sở, nhưng vẫn còn nhiều từ cổ Việt được dùng, và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân Việt là giống nhau, và dĩ nhiên có từ cũng giống như tiếng Việt -Nam.

Văn Hóa Sở có thời xưng mình là Shan 商-Thương, Ân Thương殷商  Âu-Nhân 甌 人 ( Âu-Nhân chỉ là phiên âm , Âu-Nhân 甌 人= Ân, tức là Ân Thương ) rồi xưng là Sở 楚. Sở là 1 quốc gia rộng lớn, văn hóa và ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm, đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi, "Sử Ký" chép rằng Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương cuả NHà CHU.
_Sở còn có nhiều tên gọi của Đất Sở, nước Sở, Người Sở, do Cách phiên âm khác nhau cuả từ "Sở" thành ra nhiều chử sở. Phiên âm là 1 hình thức dùng chử đã có rồi đễ diễn đạt chử chưa có cuả tiếng nói, ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân Việt / Triều châu còn chưa có chử viết !
Sở còn Gọi là Kinh, Kinh Sơ, Cửu Khuẩn, Kinh Man, và 1 số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.
_Còn Gọi là Si-Vưu, là Triều -Ca, Thương Ngô, Cứ Âu .
_Còn gọi là Phù Dung Quốc, Dương Việt .
_Còn Goị là Cộng Nhân, Quỉ Phương, Cổ Muội .
_Gọi là Việt-Khu.

_ Phạm Vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc: Các tỉnh 湖南Hồ Nam、湖北Hồ Bắc、重庆Trùng Khánh、河南Hà Nam、安徽An Huy、江苏Giang Tô、江西Giang Tây v v...và các bộ tộc "Cữu-Lê九黎".
           ***Giải Mã Bí Mật Cổ Sử Sở Bằng Tiếng Việt ***
        _Sở : Chử xưa là tượng hình, chử Sở gồm 2 cây ( Chử Lâm 林 phía trên gồm 2 chử mộc  木 ) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây  疋 = Sơ( chử Sơ 疋 bộ tẩu ) phát âm theo Tiếng Madarin là CHsùa, tiếng Mân Việt là chsó, tiếng Việt-Quảng-Châu, Phiên Ngung là chsỏ, Đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở " theo chiếc tự của Sơ -Lâm, nhưng lại có 1 cách đọc phát âm là: " Trầu ", và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại qúa nhiều ...Chử Si- vưu chính là phiên âm của chử Trầu: Si-Vưu=蚩尤, Bỡi vì Si-Vưu vô nghiã, Si-Vưu chỉ là phiên âm, và đánh vần phiên âm là ra chử Trầu mới là "có nghiã" và "Đúng nghiã " với chử tượng hình đã thể hiện, nếu như phiên âm đánh vần là  "Sưu " hoặc "Sừu" thì lại vô nghiã, nhưng, dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu, Chsia -ầu-Chsầu, tức là thật ra là " Trầu " ( Đọc theo tiếng Việt Chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH, "Trầu" là "Chầu"  )  và đã có 1 âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chử 楚  đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây, bỡi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây Cau là Đúng nhất cho chử Sở, và khi  cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.CHƯA CÓ AI PHÂN TÍCH THEO KIỂU NẦY ! VÌ: theo tài liệu Sử thì Sở là Việt, cho nên tôi thử dùng các "phương ngôn:"Việt" đễ giải mã những điều khó hiểu, và đây là 1 lối suy luận hửu lý, chứ không có tài liệu sử sách đễ dẫn chứng, đúng hay sai ? thời gian và sự tiến bộ trong việc tập trung tài liệu của nhiều người nghiên cứu sẽ kiểm chứng lập luận của tôi và  có câu trả lời ... 
_Vậy Si-vưu theo cổ Việt -nhả ngữ là Chsén-Dầu, đó là phiên âm Chs-ầu.
=>chsầu=Trầu; Si-Vưu=蚩尤=Trầu. tương tợ Chsầu, chsỏ , chsó ,chsùa , tsù ..viết là : 
...Sở là Việt, mà lại dính líu với chử "Trầu" ? đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu, và là 1 đặc điểm hiếm hoi của nhân loại. 
    ( Ngoài ra:  Người Mèo  tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ", và gọi là " txiv -yawg "...đọc nhanh cũng đúng là 1 dạng của âm chử TRẦU ...Đây là 1 đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết; Nghiã là ngày xưa Sở hay Việt-Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách -Việt ).
_Theo Khảo cứu của tôi thì Si-Vưu  Ở nước Sở và chính là Sở, vì bản thân chử Si-Vưu đã là "Trầu" là "Sở" như phân tích...nhưng có qúa nhiều thuyết, ...nhiều đến mức kinh-hoàng cho những người khảo cứu đầy đủ, có thuyết tôn Si-Vưu và Viêm Đế là 1, có thuyết: Si-Vưu và Viêm Đế là 2 đế khác nhau, có thuyết Si-Vưu là Quan dưới quyền Viêm Đế v v...
    _Xin Trích 1 đoạn chử Cổ -Việt / Hoa nói về Si-Vưu có liên quang đến Cữu Lê: ....蚩尤為首的九黎族=Si vưu vi thủ đích Cữu Lê tộc..., có qúa nhiều truyền thuyết nói về Si-Vưu, có thuyết nói Si-Vưu ở tây, có thuyết nói ở đông, có thuyết nói ở nam với người Mèo / Hmong, có thyết nói ở Bắc như người Korea có quyển sách 《Hằng Đàn Cổ ký桓檀古記》-(환단고기)nói rằng Si-Vưu là Vua ở Bán Đảo TRiều Tiên; nhưng, chú ý: Si-Vưu được tôn làm " Chiến Thần " nên nhiều người tranh dành ...cũng phải !!! và qúi vị thích nghiên cứu sử cần chú ý điều nầy: phiên -âm chử "Cữu- lê" sẽ ra chử "kỳ ", phiên âm chử "Giao-Chỉ " hay "cao-Chỳ "sẽ ra chử "kỳ",và đặc biệt là Cửu-Lê lại rất giống ...gần như 100 phần trăm với "Cao-Lệ -高麗-Korea", và cũng có tài liệu Korea liên quan đến Bách Việt, ngày nay các bạn trẻ người Việt khi học tiếng Hàn Quốc - Korea sẽ không lạ gì các từ "Han kok" là Hàn Quốc, "huynhdai" là Hiện Đại , "yu Hạc senh" là Du học sinh, tên gọi "Kim Yang" là Kim - Anh, "Dong kun" là Đông Quân v v...
      _Vì theo những khảo cứu vừa được nêu trên thì chử viết trong sữ "Si-Vưu": chẵng qua chỉ là phiên âm chử  "Trầu ", mà người ta đã lầm, không dùng tiếng Việt, phủ nhận gốc Việt, không biết hay không đọc là Trầu mà lại đi đọc là Si-Vưu cho nên vô nghĩa, và từ cái vô nghĩa, cái không hiểu nghĩa đã sinh ra ngộ nhận và cho là "HánTự- chử Tàu", rồi thêu dệt truyền thuyết ! truyền thuyết đã thêu dệt "Ông" Si-Vưu là lảnh tụ rất thiện chiến, khi ra trận biết phun lữa, chặt đầu nầy lại có đầu khác..., rỏ ràng đó là sự diễn tả Si-Vưu là 1 tập thể thiện chiến, giỏi trận pháp, dương đông kích tây, du kíck chiến, mai phục v v.., và biết dùng hỏa công chứ không phải là 1 người ! chẳng qua vì sự ngộ nhận của các đời sau phủ nhận gốc Việt hay không hiểu tiếng Việt mà người ta dựng ra 1 nhân vật như thần tiên vậy! Ở Trung -Quốc Từ xưa và cho đến nay vì ...người ta đã tôn thờ "ông" Si-Vưu là "chiến -Thần ", nên trước khi ra trận đánh giặc là làm lễ cúng bái "Chiến thần " là ông Si-Vưu !!! thật ra ..."Chiến Thần" đó phải là nước Trầu  và lại là lảnh đạo, là "Vua" của các bộ tộc Cửu -Lê 九黎-Cửu lê lại vô nghiã !!!  theo truyền thuyết thì liên quang đến Cửu lê có đến hàng 100 bộ tộc, thuyết nói 9 bộ tộc là căn cứ theo chử "CỮU 九", thuyết chánh yếu mà nhiều người tin và trích dẫn nói là có đến 81 bộ tộc-81 lại là cách dùng 9 x 9 .., 81 hay hàng 100 bộ tộc thì không thể là " CỮU九" ! "Cửu -Lê 九黎" chỉ là phiên âm đễ chỉ hàng trăm bộ tộc ở phía nam có tên gọi là "Kỳ ", Sở trong Hoa sử có đất KINH, mà lại có "Trầu" lảnh đạo 九黎Cửu-Lê là Kỳ! Sử Việt thì gọi đất Việt là Đất Kinh và Đất Kỳ! nghiên cứu mới cho thấy rỏ đường thiên di của nhân loại là từ Đông nam Á tiến lên phía bắc v v..,  nếu đánh vần theo giọng Việt Quảng Đông, thì Cửu-lê là "Cao-chìa" sẽ ra chử "kỳ"...còn đọc theo "Cữu-lê" sẽ ra âm "kê" hay "kề", đọc CỮU-LI sẽ ra âm "KY" hay "KỲ", tiếng Phổ thông cũng đọc "li" chứ không đọc "lê", về sau thì xuất hiện chử "giao Chỉ " mà nếu đánh vần phiên âm cũng là "kỳ", dân thành phố PHiên Ngung ngày nay ở tỉnh Quảng Đông vẫn đọc Giao Chỉ là "Cao-Chĩa/ cao chìa ", đối chiếu lại thì thấy rỏ ràng "cửu Lê " và "giao Chỉ " chỉ là 1 tên có phát âm là  "kỳ", và GIAO-CHỈ hay CỮU-LÊ là vô nghiã, cho đến thế kỷ 21 mà khi tra cứu tự điễn Bách Khoa  và cổ thư v v...thì thấy giải thích sở dĩ gọi là "Giao Chỉ"  vì dân vùng đó có 2 ngón cái của 2 bàn chân chià ra, khi đứng thì giao nhau, nên gọi là Giao Chỉ !!! và lại có cách giải thích khác là dân vùng đó ...khi ngủ thì 2 chân đễ chéo chử thập, 2 chân giao nhau nên gọi là giao chỉ !!! Cách giải thích như viết truyện thần thoại hay ...làm phim  "khoa học tưỡng tượng" như vậy mà đã tồn tại trong lịch sử mấy ngàn năm...thì rỏ ràng là những người có tâm huyết ở thế kỷ 21 nầy nên phải bỏ công ra đễ viết lại lịch sử là 1 điều bắt buột phải nên làm !!! âm Quảng Đông của "CỮU-Lê" lại có 1 phát âm là "Cẩu -lỳ", Có lẽ chính vì âm "Cẩu" không tốt khi ĐỌC và NGHE, cho nên mới được người ta tránh mà sau nầy không còn dùng "Cữu-Lê" nữa, chỉ còn có âm Cao-Chỳ, Giao-Chỉ xuất hiện mà thôi, những tên xưa thường hay được dính líu và kéo dài đễ dùng đến tận ngày nay, Vùng Lạng-sơn có sông Kỳ-Cùng và Phố Kỳ-Lừa là 1 thí dụ thú vị; chữ viết ngày xưa khác nhau từng vùng vì giao thông đâu có thuận tiện và tính thống nhất đâu có mạnh như bây giờ, cho nên sau nầy Tần Thủy Hoàng mới ra lịnh thống nhất chử viết ;_ Hàng 100 bộ tộc Cữu-lê/ kỳ có lảnh đạo  là si-Vưu /Trầu nhập lại... tính ra hẵn là bờ cỏi phải mêng mông lắm và cổ thư còn ghi lại gọi là "Liệt -San thị": thật ra "Liệt-San" đó chính là phiên âm chử "Lang-sang" tức là Lang ! "Lang" là khi ngôn ngữ đó đã được đơn âm hóa, và "Lang-sang" hay "Van" "Lang-Sang" hay người Hoa Viết Sử gọi vắng tắt là Shan商 "có nghiã là "Vạn Tượng" chính là nước "VĂN-LANG"...; qúi vị nào hiểu nghĩa tiếng Thái, Lào, Choang ngày nay sẽ hiểu nghĩa nầy, "Van" là "Vạn" của 1 vạn, "Lang" là "lang-sang" là  "Liệt -San" hay Shan商, hay "VănLang", Văn-Lang của người Việt cũng chỉ là 1 quốc gia duy nhất mà người ta đã viết và đọc theo nhiều cách, qúi vị chú ý chử Shan商 dịch theo từ Hán-Việt là "Thương" hoàn toàn trùng hợp với tiếng Việt là "Tượng"  tức là "Voi","Tượng" ngày xưa đọc là "Tương" là lẽ thường tình! Bỡi vì cổ Việt ngử đâu có A B C và dấu Nặng! vùng "Sở", "Trầu" "Vănlang" phải là rất rộng như truyền thuyết nước Văn-Lang bắc giáp Động -Đình Hồ, Đông Giáp biễn và Nam giáp nước Hồ-Tôn, Hồ-Tôn là giọng Mân Việt Ô-sinh >Ying, giọng Quảng-Đông là Wùa hay Huà-siń >wiǹg, âm Wìng, hay Ying̃ / yin đều là chữ Vin / Vân của Vân-Nam là tỉnh Vân Nam bây gìờ; còn âm của chử viết  là Liệt-San, yue-Lang, Văn Lang đều phát âm giống nhau, nghiã là nước "VanLangshan" cuả người Việt, "Văn-Lang" qúa rộng thì các bộ tộc qúa nhiều và có "đánh nhau" cũng là chuyện thường, đều đó càng làm cho Bách Việt Sử rối mù bỡi "Tinh thần địa phương", truyền thuyết Phù-Đổng thiên vương chống giặc "Ân THương" nếu xét cho kỹ lưỡng biết đâu là chuyện nội bộ ??? truyện Trụ -Vương mê Đắc-kỹ , sa đọa và phung phí ở Cung Đình nên phải thu thuế tô địa nhiều, bắt lao công v v...nên nhiều dân địa phương phải chống lại và tự lập lảnh địa "quốc" riêng là đúng thôi ! ...Ai chứng Minh được Trụ Vương là Du Mục hay là Hung-Nô ???  Chử viết lưu lại là Trụ Vương tên Đế Tân, chử Trụ chẵng qua là Chử "Trư" là "Con heo" cuả tiếng Việt, "Đắc-Kỳ", "Na-tra", "Khương Tử-Nha" "Cơ Phát" "Cơ Xương" đều là tiếng Việt, 1 số những tên tiếng Việt Đa âm còn sót lại trong câu truyện tự nó sẽ làm rỏ nguồn gốc Việt! những ai hiểu Hoa văn 100 phần trăm ngày nay có thể nào giãi thích cho tôi nghe "Trụ" vương và "Đắc-Kỷ" nghiã là gì ??? nỗi oán hận của người dân thời đó theo tiếng Việt đã chữi "Đế Tân" là "Heo" vì dâm dục mê gái cho nên gọi là vua Heo -"Trư", "Đắc-Kỷ" là dấu tích tiếng Việt Đa âm, đa âm "Đắc-Kỷ" là "Đĩ" , khi biến thành đơn âm, chỉ có tiếng Việt và người Việt mới hiểu nổi chứ còn ai vào đây được? theo tôi thì khi "Trụ" Vương tỏ tình với "Đắc-Kỷ" thì nói là "Anh yêu em" chứ không phải là giọng "Wò ái nìa" của Hung-Nô! Ngày nay chúng ta vẩn còn dùng từ đa âm nhiều qúa nhiều, ví dụ như: lang-thang, lôi-thôi, thẩn-thờ, lác-đác, ngoe-ngoẩy, kẻo-kẹt, lệch-lạc, lung-tung, liếng-thoắn, bạc-bẻo, tiu-ngỉu, mênh-mông, lung-linh, dịu-dàng, v v...nhiều kinh khủng lắm -Xin qúi vị đọc bài khảo cứu trước của tôi -là tiếng Việt sinh ra Hoa ngữ và Hoa Ngữ chỉ là những tộc khác học được 1 phần của tiếng Việt mà thôi! và cũng chính vì vậy mà Hoa ngữ không thể phiên dịch được hết Việt ngữ, còn Việt ngữ có thể phiên dịch được hết Hoa ngữ 1 cách dễ dàng, có những sách và những người lập luận rằng Từ ngữ Hán-Việt được du Nhập từ Trung Hoa sang Việt Nam vào thời nhà Đường! Xin Chân thành cảm ơn những sách và những người đó! ...Lập luận đó tự thân nó đã khẵng định là từ xưa cho đến đời nhà Đường là bên Trung Hoa vẫn còn dùng tiếng Việt; Có 1 bài "Việt nhân Ca" cổ đại đã hơn hai ngàn mấy trăm năm và nổi tiếng toàn thế giới, tiếng Hoa, tiếng Anh và tiếng Pháp v v...đều đã "phiên dịch" bài nầy 1 cách ...sai bét !!! tiếng Việt phiên dịch lại từ bản "hoa_Văn" nên cũng sai luôn !!! Vì người ta không hiểu tiếng Việt ...và người "Hoa" đã dùng bài nầy đễ chứng minh cổ sử của Trung quốc là "Hoa" chứ không phải Việt! Với lập luận vì là "hoa" nên không hiểu được tiếng Việt của "Việt nhân Ca", và chuyện bài hát "Việt nhân ca" nầy xảy ra ở nước Sở, xin qúi đọc giả đón đọc những bài khảo cứu sau thì tôi sẽ trình bài rỏ ràng chung quanh bài "Việt Nhân Ca" ở nước Sở ngày xưa chính là 1 bằng chứng Sở là Việt ! Điều nầy là rất quang Trọng:  CÓ thể nói rằng đây là Tâm điểm cuả sự nhập nhằn Việt và Hoa, Bới vì ông Lưu Bang và Ông Hạn Vỏ đều là Người Sở, và Lưu Bang đã lập nên nhà Hán, Có thể nói rằng Chứng minh được Sở là Hoa thì nghiã là Hoa đồng hóa Việt !!! và chứng minh được rằng Sỡ là Việt thì nghiã là Việt đồng Hóa Hung-Nô thành Việt mà đổi tên là Hoa. Bài nầy đã chứng minh rỏ ràng Sở là Việt đễ làm mất đi lớp bụi mờ của lịch sử; Tuy nhiên, đễ cho rỏ ràng và chi tiết thêm thì tôi sẽ viết thêm bài "Tự điển Thuyết Văn của Hứa Thận thời nhà Hán" và "Việt nhân Ca".
Xin trở lại chủ đề:
_đánh vần cổ ngử "Liệt-San" > tức là Li(ệt)- (S)an =>Lan = Lang .
_Viêm Đế / Si-Vưu / Trầu / Kỳ / Văn Lang là thị tộc Việt  " Hùng ", chử viết trong sử là " Hửu hùng Thị ": đọc là "Dồ Hùng'' , đó là một âm của Diệt Hùng , tức là Việt Hùng ( xin xem bài khảo cứu Bách Việt Sử khác sấp đưa ra online ) và Con Cháu các đời vua sau luôn xưng là Hùng Vương như Hùng Tao  熊蚤, Hùng LỆ  熊麗 , HÙNG CUỒNG  熊狂, HÙNG Dịch 熊繹, HÙNG NGẢI熊艾 , HÙNG ĐẢN  熊, HÙNG THẮNG  熊勝, Hủng Dương  熊楊, Hùng cừ  熊渠, Hùng Chí 熊摯, Hùng Diên  熊延, Hùng Dũng  熊勇, Hùng Nghiêm 熊嚴, Hùng Tương  熊霜, Hùng Tuân  熊徇, Hùng Ngạc  熊咢, Hùng Nghi  熊儀, Hùng Khảm  熊坎, Hùng Thông 熊通, Hùng Chất  熊貲, Hùng Giang  熊艱, Hùng Uẩn  熊惲, Hùng Thương -Thần  熊商臣, Hùng Lử  熊侶 , Hùng Thẩm 熊審, Hùng Chiêu  熊招, Hùng Viên  熊員Hùng Vi,  v v...
    Theo Truyền Thuyết: Hoàng Đế 黄帝Có 1 người con là Xương Ý昌意...-Xương Ý昌意 là 1 trong 25 người con cuả Hoàng đế黄帝, Xương-Ý  cưới vợ là người của Thuc̣ sơn thị 蜀山氏tên là Xương Bộc 昌僕 có được 1 người con là Đoan -Hạn 颛顼. Hậu duệ cuả Đoan Hạn sinh ra Cổn 鯀, Cổn Sinh Ra Vủ禹 (...Con Cuả Vủ Là Khải lập ra triều Hạ).
-Đế Đoan-Hạn颛顼 là Con Cuả Xương-Ý.
-Ngô Hồi 吳回 là Cháu đời thứ 5 cuả đế Đoan Hạn颛顼.
_Lục-Tung 陸終 , hay Lộc-Tục do cách đọc khác nhau, là con cuả NGô Hồi 吳回.
   _Qúi Liên 季連, về Sau gọi là Chúc Hùng lả con của cuả "Lộc Tung" hay Lộc Tục: có 6 người con, con út là Qúi-Liên.
_Chúc Hùng là Cha cuả Hùng Tao, Hùng Tao là Cha cuả Hùng lệ, Hùng lệ là cha cuả Hùng Cuồng.
-Sở Hùng Dịch楚熊繹 là con của Hùng Cuồng, là cháu chít của Qúi Liên/Chúc Hùng và là Thầy cuả Châu Văn Vương Cuả nhà Chu ...và Sau đây là phần tên Vua được đưa vào Sách Sử...viết bằng cổ văn .

     ***Bảng  tên hiệu Sở: Hùng Vương / Tên Họ / năm lên ngôi / năm thoái vị ...bằng Cổ Việt Văn: gồm Tên Các vua ...
君主國君名称上任時間退位時間

在位年数

楚熊蚤熊蚤(芈蚤)芈=Mi
楚熊麗熊麗(芈麗)
楚熊狂熊狂(芈狂)
楚熊繹熊繹(芈繹)
楚熊艾熊艾(芈艾)
楚熊(芈
楚熊勝熊勝(芈勝)
楚熊楊熊楊(芈楊)(Tiền: trước công nguyên)
楚熊渠熊渠(芈渠)年:Năm
楚熊摯熊摯(芈摯)
楚熊延熊延(芈延)前848年
楚熊勇熊勇(芈勇)前847年前838年10年
楚熊嚴熊嚴(芈嚴)前837年前828年10年
楚熊霜熊霜(芈霜)前827年前822年6年
楚熊徇熊徇(芈徇)前821年前800年22年
楚熊咢熊咢(芈咢)前799年前791年9年
楚若敖熊儀(芈儀)前790年前764年27年
楚霄敖熊坎(芈坎)前763年前758年6年
楚蚡冒熊眴(芈眴)前757年前741年17年
楚武王熊通(芈通)前740年前690年三月51年
楚文王熊貲(芈貲)前689年前675年六月庚申15年
楚堵敖熊艱(芈艱)前674年前672年3年
楚成王熊惲(芈惲)前671年前626年冬季十月46年
楚穆王熊商臣(芈商臣)前625年前614年12年
楚莊王熊侶(芈侶)前613年前591年秋季23年
楚共王熊審(芈審)前590年前560年31年
楚康王熊招(芈招)前559年前545年九月以後15年
楚郏敖熊員(芈員)前544年前541年冬季4年
楚靈王熊圍(芈圍)前540年前529年五月12年
楚王比熊比(芈比)前529年春季前529年五月未改元
楚平王熊居(芈居)前528年前516年九月13年
楚昭王熊珍(芈珍)前515年前489年秋季七月以後27年
楚惠王熊章(芈章)前488年前432年57年
楚簡王熊中(芈中)前431年前408年24年
楚声王熊当(芈当)前407年前402年6年
楚悼王熊疑(芈疑)前401年前381年21年
楚肅王熊臧(芈臧)前380年前370年11年
楚宣王熊良夫(芈良夫)前369年前340年30年
楚威王熊商(芈商)前339年前329年11年
楚懷王熊槐(芈槐)前328年前299年30年
楚頃襄王熊横(芈横)前298年前263年秋季36年
楚考烈王熊元(芈元)前262年前238年25年
楚幽王熊悍(芈悍)前237年前228年正月10年
楚哀王熊猶(芈猶)前228年正月前228年三月未改元
楚王負芻熊負芻(芈負芻)前227年前223年5年
昌平君 前223年前223年
楚隠王(張楚隱王)陳勝前210年前209年
楚假王景駒前209年前209年
楚義帝熊心(芈心)前209年前207年
楚霸王(西楚霸王)項羽 Hạn Vỏ前206年前202年
        Sở Bá Vương  楚霸王_Hạng Vỏ 項羽 là con cháu đích tôn của Hùng Triều họ Mi 米 ( Mi hay Mị ,Mì , Mễ ) vì tổ tiên được phong đất cho ở Đất Hạn, cho nên lập Tổ dòng họ Hạn; ( cũng như Khuất Nguyên vậy, thời phong kiến thì dòng họ vua thường hay được phong cho Đất đễ lập ấp, lập quốc nhỏ làm chúa nơi địa phương nhỏ và thường hay đổi họ theo đất mình được làm chúa nơi đó ) ...Sở Bá vương Hạn Vỏ và Lưu Bang lảnh đạo dân Quân Sở-Việt lật đổ nhà Tần...
***Khảo cứu Một số phong tục vùng Sở -(Trầu / Kỳ / Liệt San-yue Lang -Văn Lang- Việt Lang mà ngày xưa goị là "Sở " )và ngay nay qúi vị cọ thể tìm hiểu và tham khảo dễ dàng trên các web của các bloger hay trên trang web của tỉnh Hồ Nam hay Hồ Bắc của Tân Hoa Xã:
_Khách đến nhà khi đả mời ngồi rồi thì kỵ lau bàn hay quét nhà, vì như vậy là có ý đuổi khách.
_Khi mời khách ăn trứng gà thì không được đải ăn số trứng lẽ 1 hay 3, nhưng kỵ nhất là đãi khách ăn 2 trứng, Vì "ăn hai" giống như tiếng chữi ..."ăn Hại" của tiếng Sở.
_Trước khi ăn, không được dùng đủa gỏ chén, vì chỉ có ăn mày mới gỏ chén ăn xin.
_Sau khi ăn, không được gác đủa lên chén, vì gác đủa lên chén là cúng cơm cho vong linh.
_Đầu của phái nam, và vùng eo của phái nữ là chỉ được nhìn, không được rờ ..., nếu bị tùy ý đụng chạm thì coi như là một điều bị sĩ nhục.
_Phải phơi quần áo phụ nữ nơi kính đáo, không được cầm sào phơi quần áo phụ nữ băng qua đường; đồ lót của phụ nữ khi phơi phải tìm ở chổ người ta không nhìn thấy; khi phụ nữ có thai thì không được tham gia tiệc đám cưới; phụ nữ đang có kinh kỳ thì không được vào chùa, miếu; phụ nữ không được tham gia việc xây bếp hay dựng kèo cột trong xây cất.
_Kỵ những từ ngữ hung hiểm, ví dụ: không nói "Chêt́" mà nói "Đi" rồi, hay "không còn nữa", Quan tài thì nói "thọ tài ", "thọ mộc "; ngày tết không được nói "thấy bà"," thấy qủy", "đồ...qủy sứ"...nói chung là kỵ từ ngữ hung hiểm hay xui xẻo.
_ Cha mẹ qua đời thì con trai không cắt tóc trong thời gian 7 Thất (Tuần ) đễ tỏ lòng hiếu thảo khi để tang.
_ Kêu chuột bằng "ông", chuột rất khôn lanh, nên sợ chuột cắn phá quần áo v v...nên tỏ ra tôn kính mà gọi là "ông" Tí.
_Con một của gia đình thì thường goị là "Chó con", "Bé ", "Nữ", "Nố","Náo "...Vì sợ ma quỉ xâm hại, sợ khó nuôi.
                   Ngày Nay thì Văn Hoá Sở đã biến thành đã biến thành văn hóa cuả tiếng Phổ thông / Quang Thoại, nhưng những nghiên cứu về từ ngữ cỗ của lịch Sử còn sót lại mà người ta còn dùng và được biết ở các vùng thuộc Sở lại làm cho tôi giật mình:
-Dù đã bị tiếng phồ thông-quan-thoại thay đỗi, nhưng Nhiều vùng "sở" ngày nay vẫn gọi con của mình là phái nam bằng "trai " như tiếng Việt, đó là vùng: Nam Xương 南昌/ đọc là "ʦai" như "Chai " Hay "Trai" 、đó là các vùng Đô Xương 都昌、An Nghiã安義、Tu Thuỷ修水、Bình Giang 平江、Dương Tân陽新、Tuyên Phong宜豐、Tân DU 新喻 、v v...vẫn gọi con trai là "TSai".
 và....
-2 chân giang rộng ra gọi là: "Mở" và Viết là chử 摸 /Mạc - nhưng đọc là  "mở".
-Con ngổng gọi là  Ngang, ngo.
-Lớn, goị là "Đại ", viết là 軚/ đọc là Đại.
-Cái Rổ làm bằng bằng tre: gọi là Rổ, viết là 蘿 / đọc là Rổ; có nơi nay đọc lô hay lo, loa, lóa...
_"Hiểu", vùng Kiến-Ninh  建寧 ngày nay vẫn đọc "Hiểu'' 曉 như tiếng Việt .
-"Phan", vất đồ vật gọi là Phan, viết là 拌 / đọc là "Phan".
-Bất kể, bất cần mạng sống gọi là "Bán mạng", những vùng còn nói là  "bán mạng" là: ( phát âm có khác nhau 1 chút giữa các vùng ): Nam xương 南昌 / pʰɔn miaŋ、An Nghiã  安義 / pʰɔn miaŋ、Cao An 高安 / pʰɛn miaŋ、Tân Du 新喻 / pʰɔn miaŋ、Bình Hương 萍鄉 / pʰɔ̃ miã、Lễ Lăng 醴陵 / pʰõŋ miaŋ、Kiến Nnh 建寧 / pʰɔn miaŋ、Thiệu Vủ 邵武 / pʰon miaŋ。
_cái lá cây Trúc gọi là Lá, viết là 箬 / đọc là "lá".
_thấy, viết là 睇 đọc là  "Thấy".
_vùng nước Sâu gọi là "thầm" hay "Than", nghiã là "Đầm" so với tiếng Việt .
        Tất cả những phần khảo cứu tiếng nói và phong tục Sở nêu trên là vào trang nhà trên Internet của tỉnh Hồ Bắc  thuộc Tân Hoa Xã là sẽ đọc thấy (trong hiện tại).
        ...Từ những chứng cứ nêu trên, có thể thấy ngày xưa vủng Sở vừa Đúng là "Trầu", vừa đúng là Nước Việt / Văn Lang rộng lớn với hàng trăm bộ tộc  "kỳ -Cữu lê" nói tiếng Việt, Nếu vậy thì nên đọc địa danh và tên người cũa cổ Sử theo tiếng Việt ...
_ khảo cứu 1 số tên Sở theo hướng "việt-Ngữ" thì  thấy là, Ví Dụ :
1/ CAN TƯƠNG: phiên âm Can-Tương > "Cương" hay  "Cường" / vì chẳng có ai tên là Can -Tương, nếu Can-Tương đúng là tên 1 người thì trước đây đã có người dùng, sau nầy phải có người dùng, và bây giờ cũng phải có người dùng; suy ra, Can-Tương là "Cường".
2/ MẠC TÀ: ...chưa thấy có ai trong sử sách có tên là "Mà""Tà" hay "Mạ" "tà", phiên âm nầy chỉ theo Mân Việt ngữ mới có nghiã, đọc là "Bạc-ghé'' > "Bé", còn 1 cách đọc khác là "mo -ghé" ra âm "Moẽ"- ( Moẽ là bé gái ), ở đâu có người Triều -Châu và tiếng Mân Việt thì có người gọi con gái là "Moẽ", ở đâu có người Việt là ở đó có người gọi con gái là "Bé" *** ghi chú : tiếng Mân Việt là Phước Kiến và Triều Châu giữ được rất nhiều Việt Cổ Ngữ, khi phục chế ngôn ngữ Sở hay đối chiếu đễ rỏ nghiã thì các học giã bên Trung Quốc hay so sánh với Mân Ngữ mà tìm đáp số; Ngày nay chúng ta đọc là Mạc-tà, nhưng theo phân tích kỷ lưỡng của tôi thì "bạc -chsé"> tức là "Bé" là tên đúng nhất của người vợ của Can-tương >Cường.
3/CỬU KHUẨN: ...Vần phiên âm "Cữu -khuân" >là " Quân"  nầy độc đáo, dù đọc theo giọng Quảng Đông / Triều Châu / Phước Kiến hay Việt Nam đều có kết quả là "Quân", Đất "Quân" ( Đất Quân hay Quan , Âm thanh gần nhau là tên 1 vùng đất nơi ...được gọi là: Sở, Vậy ..không thể nào là "cưũ -khuẩn " vì nó hoàn toàn vô nghiã ...
4/TRIỀU CA: kinh đô của triều Thương / Trụ Vương là Triều Ca, phiên âm giọng Việt Quảng Đông là Chsiều -Co >Chso / chsò, chính là vùng đất "Trầu" hay "Sở", Vậy không có "Triều -Ca " chỉ có "Trà" là phiên âm của Triều Ca và phát âm rất giống âm "Trầu", ...chỉ có chso , chsò , Trầu , Sở ...bỡi vậy cho nên không có ai tìm ra được kinh đô " Triều Ca " cuả Trụ Vương ở Đâu !!! này nay người ta cho rằng Triều-Ca ở huyện Kỳ của tỉnh Hà Nam ... và đó cũng là lý do tôi tin rằng Trụ Vương / nhà Thương là người Việt vì kinh đô Mang tên "Triều- ca" thì chính là Sở, và vua nhà Thương họ Chử, là con cháu đế Nghiêu,và có chứng cứ tài liệu là họ biết nuôi Voi thì càng đúng là "VanLangshan" tức là Văn-Lang, thần thánh "phong phú như truyện "phong Thần" là sãn phẫm của văn minh nông nghiệp lúa nước đã định cư thì mới có được truyện như vậy v v... Và người Việt Nam không xa lạ với họ Chử ...qua truyện "Chử Đồng Tử"; Triều-Ca là 楚sở. 
5/ THƯƠNG NGÔ: đọc theo phiên âm Quảng Đông là "CHSén-ngùa " > CHsùa =楚sở. 
6/ CỨ ÂU: đọc theo phiên âm Quảng Đông "Chsìa-Ngâu" > Chsầu =楚sở. 
7/CỘNG NHÂN: Cộng -nhân> Cân; Cong-nan> Can, Cúng -dành> Cánh; Can , cân , cánh , đều là gịong việt, mân, Quảng Đông đễ goị đất "cống" (đất "Quang" ) là Vùng Sở.
8/ QỦI PHƯƠNG: Quỉ -Hoang > Quang là giọng Mân Việt, Đất " Quang " là 1 tên khác của Đất sở, Có thể giọng "Quang" là Chính Thức vì rất phù hợp với tiếng Việt; và cũng chính là " Quang" là chủ ngữ đã sinh ra qúa nhiều tên gọi theo sau: Cân / Can / Cánh, Cung, Cúng và Trở thành Cống ngày nay.
19/ CỔ MUỘI: giọng phổ thông Cuà -Mi >ky hay " Kỳ ".
10/ 昌意Xương-Ý: giọng Việt Phiên-Ngung còn đọc là Chsen-ià > tức là phiên âm của Chsià 其, "Chsià" hay "Khỳ" hay "Kỳ" ? ..."khỳ" hay "Kỳ" là tùy giọng nói của từng địa phương.
11/陸終Lộc tục hay Lộc tung đều có phiên âm là >Lùn ( tiếng Quảng Đông "Lùn" là Rồng ), Long.
    ....Qua Những khảo cứu và đối chiếu phía trên đả đủ cho ta thấy "Bí Mật" sé được dần dần sáng tỏ. SỞ là Việt như Tư Mả Thiên đã Viết trong Sử Ký là "Sở Việt đồng tông đông̀ tộc", và cũng thấy được nhà "thương" -"trụ Vương " cũng là Sở ngày trước, và còn biết được "Can-Tương" và "mạc -Tà" tên thật là gì v v...; và người Sở là Hạng Vỏ và Lưu Bang lật đổ nhà tần rồi lập nên nhà Hán chính là người Sở và nói tiếng Sở và đó chính là  "Sở" "văn -Lang" với "Cữu-Lê / Kỳ " và ngôn ngữ chính là Việt Ngữ; Sách "Thuyết Văn" thời Hán là đọc theo Việt Ngữ lại là 1 minh chứng thêm...; Sở Là Việt, là Văn Lang, người Việt làm sao quên được Văn-Lang? Hoa Sử viết rầng Triều Shan (Nhà Thương) qúa nhiều lần dời thủ đô, mà không nghiên Cứu hoặc chối bỏ là Shan từ đâu đến! Văn-Lang đã bắc tiến từ nam ...Đâu dễ gì có 1 ngọn núi là "Lạng Sơn" mà lại trở thành tên của 1 tỉnh? Lạng Sơn hay Lạng-San, hay Lang-Shan, chính là tên của nước "Vănlangshan" còn sót lại khi những vùng đất kia của nước Văn-Lang đá bị đỗi tên thành các vương triều và quốc gia khác nhau theo dòng lịch sử...
       Vì có những ngộ nhận hay gian trá và hàng hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên bề dầy lịch sử Bách Việt...cho nên bài khảo cứu nầy được suy xét rất thận trọng. Đễ làm sáng tỏ...
       Sở là Việt, là Văn-Lang trải dài từ phương nam lên Động Đình Hồ với nhiều đời vua với phong hiệu là Hùng Vương.
    ______________________________________________
   * Ghi chú: Can-Tương và Mạc -Tà là tên kiếm và cũng là tên của Vợ chồng nỗi danh đúc kiếm.
-Bài nầy có tham khảo các website dưới đây.
  • 楚國
  • 贛語的歷史
  • 贛語中的古百越語詞一覽
  • 贛語中的古吳語詞一覽

  • Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và độc giả
    vì những chữ Hán không thể hiện ra được theo ý muốn của NVA



    Nước Việt thời Xuân thu chiến quốc nhà CHU ở phía nam cuả nước NGÔ , kinh đô là 会稽 HỘI KÊ -ở vùng THIỆU HƯNG -HÀN CHÂU ngày nay .
    VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN : sinh năm 520 năm trước công nguyên_và mất năm 465 năm trước công nguyên.
    Có thể nói rằng đa số ai cũng biết câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử nầy , sử , truyện và phim của truyện vẫn tiếp tục lôi cuốn khán giả .thời ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC có nước Sở ở phía nam ngày càng lớn mạnh rồi xưng bá Trung Nguyên ở Trung Quốc và không ngừng khuyêcht trương thế lực cũng như đất đai , Sở là 1 đe dọa lớn thường tấn công nước Ngô  , Sở và Việt ̣Đồng tông Đồng tộc. Việt thường giuṕ Sở khi mổi lần đem quân chinh phạt Ngô. Năm Châu Kính vương thứ 23 -trước công nguyên 497 năm -Sở và Việt liên quân ̣đánh Ngô , vua Ngô HẠP LƯ cầm quân ra trận đối địch với VIỆT VƯƠNG CÂU TIẾN ,bị vua Viêṭ bắn trúng 1 tiễn nên  bị thương rồi chết , NGÔ PHÙ SAI lên ngôi thay cha và luôn canh cánh mối lo và mối thù với nước Việt. Nhờ có tướng tài là NGỦ TỬ TƯ , NGÔ vương đã trả được mối thù thật tàn khốc , nước VIỆT bị mất vào nước NGÔ . nhưng , NGÔ PHÙ SAI không nghe lời  lão thần NGỦ TỬ TƯ , không giết VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN khi vua Việt trá hàng đễ nuôi chí phục thù , vua Câu Tiễn nhờ có 2 quan ĐẠI PHU là PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG thực hiện 10 kế hay cùng  mỹ nhân kế là dùng TÂY THI làm gián điệp mê hoặc NGÔ VƯƠNG ; Nhờ vậy nên sau 1 thời gian nằm gai nếm mật , VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN ̣đã tiêu diệt nước Ngô , giết NGÔ PHÙ SAI và thống nhất 2 nước NGÔ và VIỆT ,  Từ đó ,nước Việt lớn mạnh hơn , lại đem quân vượt sông Hoài lên phiá bắc xưng bá chủ Trung Nguyên , được CHÂU NGUYÊN VƯƠNG 周元王sắc phong là Hầu Bác , tước vị là Tấn Bác vị , sau đó vua Việt Câu Tiễn dời thủ đô đến Lang Nha 琅琊 hoàn thành bá nghiệp .
    Ghi chú  : thời nhà Chu suy nhược thì vua Chu chỉ là hưủ danh mà vô thực , chỉ có vua cuả nước chư hầu nào mạnh nhất mới thực sự có thực lực và thực quyền và được xưng là BÁ CHỦ .
    -Lang nha 琅 琊  , Lang Nha quận là đất thuộc về phía đông nam cuả bán đảo SƠN ĐÔNG , bán đảo SƠN ĐÔNG có ngọn núi là Thái Sơn 泰山 nổi tiếng hùng vĩ toàn TRUNG QUỐC , khảo cứu câu chuyện trên thì không ai lấy làm lạ là taị sao trong ca dao VIỆT NAM ngày nay có câu :
                     Công cha như núi Thái Sơn
                     Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
                     Một lòng thờ mẹ kính cha
                     Cho tròn chử hiếu mới là đạo con
    Thử tìm hìểu chữ Viết và tìếng nói của  dân Việt cuả Việt Quốc thời VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN :
     Việt vương Câu Tiễn kiếm
    Năm 1965 tại tỉnh HỒ BẮC 湖北 , vùng Kinh Châu (GIANG LĂNG ) ở VỌNG SƠN , Người ta đào được từ dưới đất cuả 1 khu di tích lịch sử , lăng miếu thuộc triều đại nhà Sở 1 thanh bảo kiếm cổ xưa cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN , Trên kiếm có khắc 8 chữ VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN TỰ TÁC DỤNG KIẾM "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑 " ,chữ CÂU TIỄN thời tiền Hán là 鸠浅 và ngày nay viết là 勾践 , chữ Tác khi xưa là 乍 và bây giờ là 作 . Hiện giờ thanh bảo kiếm được trưng bài và bảo quản ở bảo tàng viện Hồ Bắc , đây là một bảo kiếm qúi hiếm tự cổ chí kim , với khoa học tiến bộ cuả ngày nay mà người ta vẫn chưa biết làm sao để đúc được thanh kiếm bị chôn vùi dưới đất hơn 2 ngàn mấy trăm năm mà không bị rĩ sét và hư hoại , kiếm vừa đào lên khỏi mặt đất thì người ta kinh ngạc bỡi sự toàn vẹn mà còn lấp lánh hàn quang , thử rạch nhẹ 1 cái là xuyên đứt hơn 16 lớp giấy , để cọng tóc thổi thử là đứt ngay , quả là 1 bí ẩn cuả phương pháp đúc kiếm cuả người VIỆT thời xưa mà hiện giờ không ai làm được .qúi vị có thễ xem phần thử kiếm cuả 1 thanh kiếm tại trang youtube nầy: http://www.youtube.com/watch?v=pvs5V_RXefs&feature=related Và biết rằng so với VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN KIẾM thì là 1 trời 1 vực , không thễ so sánh được . qúi vị có thễ xem nơi khảo cổ tìm ̣được và thanh bảo kiếm ở trang nầy: http://www.youtube.com/watch?v=oeSFeBgb3sE
    Mân ngữ -闽语 : 8 chử "越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑 " DĨ nhiên đó là chữ VIỆT , Báo kiếm nạm ngọc và chém sắt như chém bùng cuả Vua 1 quốc gia thì làm sao mà dùng chử cuả dân tộc khác được , chử xưa là tượng hình rồi biến đỗi dần , chỉ có chuyên gia nghiên cứu đọc quen mới nhìn ra .đó là chử viết mà ngày nay người ta goị là TRUNG VĂN hay là chữ HÁN VIỆT ,trong khi từ hơn 2500 năm về trứơc thì chử đó đả là chử VIỆT , của nước Việt ,cuả người VIỆT nói tiếng VIỆT ; Tiếng Việt thời đó cuả Nước Việt phải là rất giônǵ như tiếng VIỆT NAM bây giờ , bởi vì sau nầy nước Việt cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN bị nước Sở xâm chiếm và thôn tính , thì con cháu cuả VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN chạy về hướng nam tiếp tục triều Việt ở tỉnh PHÚC KIẾN là MÂN VIỆT , và tiếng VIỆT ở vùng giang đông nầy goị là tiếng MÂN VIỆT -vẫn tồn tại cho đến ngày nay và phát triễn theo chiều di dân xuống phía nam theo hơn 2 ngàn năm lịch sử kễ từ khi VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN ra đời..., tự điễn hiện giờ và văn khố ngày xưa đều ghi rỏ MÂN là VIỆT là MÂN VIỆT , tiếng MÂN VIỆT trải dài từ HÀN CHÂU ngày nay xuống phiá nam đến vùng PHƯỚC KIẾN , TRIỀU CHÂU , đến bán đaỏ LÔI CHÂU , qua biễn đến đảo ĐÀI LOAN , đảo HẢI NAM , ...và nước VIỆT NAM , và đảo quốc Singapore ; hiện nay MÂN NGỮ là 1 ngôn ngữ địa phương mạnh nhất trong 8 phương ngữ ở TRUNG QUỐC , MÂN NGỮ "qúa lớn" nên không tránh khỏi nhiều giọng bắc trung nam như tiếng VIỆT NAM , Cho nên lại chia ra MÂN ĐÔNG NGỮ -vùng Hàn Châu , Triết Giang -, và MÂN NAM NGỮ là vùng Phước kiến xuống phía nam ..., MÂN NAM NGỬ lại có nhiều giọng khác nhau chút đỉnh là tiếng PHƯỚC KIẾN , tiếng TRIỀU CHÂU , tiếng LÔI CHÂU , tiếng HẢI NAM. MÂN VIỆT NGỮ sau hơn mấy ngàn năm "chia cách " LỊCH SỬ với dân GIAO CHỈ mà ngày nay vẫn tương đương giống nhau với tiếng VIỆT NAM , bây giờ MÂN NAM phát âm giống tiênǵ Việt Nam hơn MÂN ĐÔNG , và PHƯỚC KIẾN hay TRIÊÙ CHÂU là coǹ giống như ViệT , đặc biệt nhất là tiếng TRIỀU CHÂU .
    Xin mời xem qua 1 số từ ngữ cuả tiếng VIỆT NAM với tiếng TRIỀU CHÂU ngày nay sau đây :
    - Tiếng VIỆT nói NAM BẮC thì tiếng TRIỀU CHÂU nói là NAM PẮC . GHI CHÚ : đọc theo giọng bắc Hà Nội mới giống tiếng TRIỀU CHÂU.
    LONG ĐONG        LONG TONG
    YÊU QUÁI        YEU KUẠI
    KINH THIÊN ĐỘNG ĐỊA        KEA THIA TONG TI
    KHAI TRƯƠNG        KHAI CHEANG
    THIÊN HOÀNG        THIEN HOANǴ
    LÔI CÔNG        LUI COON
    CÔNG VỤ        COONG VỤA
    CÔNG PHU        CONG HUA
    NAM ĐẾ        NAM TIẠ
    Á CHÂU        A CHIU , Á CHỊU
    ÁC        ÁC
    Ô        Ô
    Ô GIANG        Ô KANG
    U ÁM        Ô ÀM
    AN NAM        AN NÁM
    AN ỦI        AN OÈ
    AN BÌNH        AN PENǴ
    AN CƯ        AN KUA
    ẤN BẢN        ÍN PANǴ
    ÂN HUỆ        EN HỤI , ANH HUI
    ÂN ÁI        EN ẠI
    ÂN TÌNH        EN TSINH
    ÂN NGHĨA        EN NGHỊA
    BÁO        PÓ , PỌ
    IN        ỊNG
    XUÂN       TSUAN
    HẠ       HEA
    CẬU       KUẠ , CỦA
    CHỊ       CHIÁ ,CHÉ
    SƯ PHỤ       SUA HỤA
    BÁO CÁO       PÓ CẠO
    CẢNH BÁO       CÀNH PỌ
    THÔNG CÁO       THONG CẠO
    QUẢNG CÁO       QUÀNG CẠO
    QUẢNG LÝ       QUÀNG LÝ , QUẠNG LÍA
    TƯƠNG TƯ       SEANG SƯA ,SEANG SUA ,
    MỶ NHÂN       MUỲ DÍN
    AN TÂM      TIM AN XIM , AN XỊM
    BÌNH AN HẠNH PHÚC       PENG AN HENG HỌK
    BÌNH TÂM       PENG XỊM
    BẢO VỆ       PẠO UY , PỌ UY
    BAN GIAO       PAN CAO
    BIẾN THỂ       PIẾNG THÍA
    BIẾN ĐỘNG       PIẾNG TOỌNG
    BIẾN HÓA       PIÊNǴ HOE
    CA ĐOÀN       KO THOANǴ
    CA VỦ       KO VÚA
    TAM CANH       SA CANH
    TỨ HẢI       SÍ HÁI
    HẢI PHÒNG       HÀI HOONG
    ĐẠI PHONG       TAI HOONG , TOA HUAN
    KÉM       KÉM
    TRỘI       CHÔI
    CAO       CAO
    CAO KIẾN       CAO KIẸNG
    HÔN NHÂN       HUÔN EN
    XUNG PHONG       TSOONG HOONG
    TRIỆU QUANG PHỤC       CHIÊU KUANG HỤK , (HỌK)
    ĐINH BỘ LỈNH       TENG PỌ LENǴ
    HÀ ĐỒ , LẠC THƯ       HO TỐ , LO CHƯA
    LAI VẢNG       LAI OANǴ
    KHÁN GIẢ       KHÁN CHIÉA
    MẮT       MẮT
    MAỲ       BAI
    NHÂN ĐẠO       DIN TẠO
    THỐI BỘ       THỐI PO
    TIẾN BỘ       CHÍNH PO
    HUÊ KỲ       HOE KHIÁ
    NAM KỲ       NAM KHIA
    THÌ KỲ , THỜI KỲ       SIA KHIA
    KỲ HẠNG       KHIA HẠNG
    QÚA KHỨ       QUÉ KHƯẠ
    KỸ NIỆM       KÝ NIẸM
    CÔNG LỘ       CONG LÔ
    HÀN HẢI       HAN HÁI
    HOA NGHIÊM KINH       HOA NGHIEM KENH
    NI CÔ       NIA CÔ
    TRIẾT LÝ       TÉK LÝ
    THÁI SƠN       THÁI SOA
    ...Phần trên là 1 số ví dụ , nghĩ đến đâu thì tôi viết đến đó -vì tôi là người TRIỀU CHÂU -không thễ viết nhiều ở đây ...vì bao nhiêu cho đủ ? đễ chỉ là ví dụ , nếu viết hết thì sẽ thành 1 quyển tự điễn VIỆT NAM-MÂN VIỆT , ĐIỀU ĐÓ LÀ PHẢI CÓ ĐỦ KINH PHÍ VÀ THỜI GIAN THÌ MỚI LÀM NÔĨ .đây là bằng chứng những tiếng Hoa là tiếng Việt , nước NGÔ cuả NGÔ PHÙ SAI củng dùng tiếng VIÊṬ , NGÀY nay tiếng đó chính thức mang tên là NGÔ VIỆT NGỮ , gọi tắt là NGÔ NGỮ , HIỆN giờ NGÔ NGỮ vùng Giang Tô , Thượng hải khi nói HOÀ BÌNH thì vẫn đọc là "Hòa pình" , Ô Đề _Nguyệt lạc ô đề sương mản thiên ...- vẫn đọc là " Ô đề " như người Việt nam , Chị là "chì chị" v v...
    Bài viết nầy nêu bằng chứng người Hoa và tiếng Hoa là Việt , đề tài "qúa lớn "... , sẽ còn phải viết thêm rất nhiều bài nưã , qúi vị nào có thể đọc chử Hoa , Hán -Việt và Nôm thì tha hồ đọc nhiều tài liệu bằng Hoa văn và đọc Sử Ký cuả TƯ MÃ THIÊN bằng Nguyên Văn ..., dù là Người Việt hay là Hoa thì xin quí vị haỹ công tâm mà để ý 1 điêù là ...tất cả sử saćh xưa và nay thường chối bỏ nguồn gốc Hoa cuả người Việt , và Hoa thì chối bỏ nguồn gốc là Việt cuả BAĆH VIỆT ; NGÔ và VIỆT đều là VIỆT , đều là cháu chít cuả THIÊÚ KHANG nhà CHU , vậy nhà CHU cũng là Việt , và ĐỨC KHỔNG PHU TỬ dùng tiếng VIÊṬ để giảng bài khi dạy học sinh , đó là những bài viết cần phải thêm sau cho bài nầy , xin qúi vị nào có bằng chứng đúng sai từ nguồn tài liệu nào củng đem ra đóng goṕ chung và thảo luận rỏ ràng mới vui , mới hợp lý ...khi đưa ra bằng chứng viết bởi Sử xưa thì quí vị hãy đễ ý là ...khi nào thì có tên dân tộc HOA ? và Hán ? và những người đã xưng là Hoa hay Hán viết "sử" thì ôi thôi ...ví dụ: họ giaỉ thićh SỞ quốc là KINH SỞ , KINH MAN cuả người MAN (man di mọi rợ)...NHƯNG củng là họ ...họ giaỉ thićh và ghi chú rỏ ràng trong sử sách SỞ BÁ VƯƠNG -HẠN VỎ và LƯU BAN -HÁN CAO TỔ ...củng là người cuả nước Sở ...thì họ ghi là HÁN TỘC , Những điều diễn giaĩ như vậy đầy vẫy trong lịch sử TRUNG HOA , và "HOA " hay là "Hán" cứ cho là Việt tộc trong cổ sử Trung Hoa là BÁCH VIỆT .thì phaỉ là người dân tộc MÈO , BỐ Y , LÊ , ĐỒNG , DAO , CHOANG , LÀO , MIẾN ĐIỆN V V....; HỠI những vị được làm quan và viết sử , hỡi những chuyên gia cao thâm xưa và nay ...56 dân tộc "anh em " còn đó taị TRUNG QUỐC , VIỆT NAM và ĐÔNG NAM Á ...tôi có 1 câu hoỉ : Có người ĐỒNG ,MÈO , DAO , CHOANG , THÁI , LÀO V V....chiụ nhận mình là người Việt Nam hay là Việt không ??? có lịch sử nào chứng minh họ là người Việt và nói tiếng Việt ??? không thể naò đem vài chục , hoặc 100 hay 1 ngàn từ ngữ khmer trong tiếng Việt để nói và ghi trong tự điễn rằng tiếng Việt là ngữ hệ MÔN -KHMER ..., tôi không tin và rất nhiều người không tin ..., tiếng Việt có cả 100 ngàn từ hoặc nhiều hơn gấp mấy lần nưã...nêú tính chung VIỆT NAM , VIỆT , MÂN VIỆT , NGÔ VIỆT , DƯƠNG VIỆT , VU VIỆT , ÂU VIỆT v v....xà phòng , ô-tô , sếp( ̣theo PHÁP NGỮ ); con trai tiếng (CỐNG -SỞ VÙNG ĐỘNG ĐÌNH HỒ )haỹ, tim CHOANG NGỮ ; yêu , chuà ,kém ,trội TRIỀU CHÂU-MÂN NGỮ ; long đong MẢ LAI NGỮ , bụt ẤN-PHẠN ,buồn QUÀNG ĐÔNG-VIỆT , chị ,hoà bình ( NGÔ VIỆT ), tam , tứ (HAỈ NAM ),tuần (THÁI )tay ,chân ..rồi đếm một , hai , ba , bốn là theo tiếng khmer ...TẤT CẢ nhưñg từ nêu trên là bình thường vì qua tiếp xuć và vai mượn nhau cuả các dân tộc ...nói xin lỗi với những chuyên gia ...kỳ cục rằng ...nếu tiếng VIỆT thuộc hệ khmer thì có lẽ ngày xưa...câu ca dao đả đôỉ thành "công cha như núi ANGKO ...nghiã mẹ như nước biển hồ chãy ra ...!!!" và không bao gìơ có chuỵên người KHMER ở miền tây nam bộ đả từng ..buồn buồn là hú baṇ ơi ..đi cắt ...giết Việt "CÁP DUỒN ... BÒN ƠI ! "
    Người Việt cũng ...không phải là dân tộc thiêủ số ngày nay ; ai có thể chứng minh cho thiên hạ xem ..người Việt đả dùng trống đồng như người dân tộc thiêủ số hiện giờ vẩn còn dùng trong ca hát cúng tế ..., có triêù đại , vua quan , cộng đồng dân Việt nào đả dùng trônǵ đồng trong lịch sử ...và hiện giờ ...đâu ???
    Người Việt là người Việt , có nhiều Việt tộc nên goị là BÁCH VIỆT , Chỉ cần nắm rỏ căng bản ngữ vựng cuả tiếng VIỆT ngày nay là có thể học và hiểu ngay nhưng̃ tiếng VIỆT khác trong bách VIÊṬ một caćh không khó ...nếu không muốn nói là dễ dàng....
    Xin Hẹn qúi vị và bạn bè bài viết sau.....

    ****************************************************************

    Ghi Chú :

    qúi vị nào dùng bàn phím không có cài nhu liệu để đánh maý chử Hoa mà muốn Search trang chử Hoa để đọc thì chỉ cần coppy chử Hoa rồi Paste vào khung ..rồi bấm Search là được . :泰山 :Thái Sơn , ở tỉnh Sơn Đông山东省 , Trung Quốc .

    史記 歷史學家司馬遷 có rất nhiều website đả có post Sử ký cuả Tư Mả Thiên ...có nhiều chọn lựa đề xem , trang nầy không dùng Cổ Văn VÀ DỂ ĐỌC....:http://zh.wikipedia.org/w/index.php?title=%E5%8F%B2%E8%AE%B0&variant=zh-tw

    琅琊 所在地,在山东省诸城东南海滨,今属于胶南琅琊镇 Lang Nha ở tinh̀ Sơn Đông , ngày nay thuộc NAM GIAO LANG NHA TRẤN。

    会稽 : Hội kê hay là Hội kế giống nhau . là vùng đất rất rộng bao gồm Giang Tô và Chiết Giang . xưa có vua Vủ hội kế với Chư hầu tại đây trị thũy mà thành tên.

    春秋 Xuân thu

    阖闾 Hạp Lư 夫差 Phù Sai 伍子胥 Ngũ Tử Tư

    .文种:Văn Chủng.

    范蠡 Phạm Lải 西施 Tây Thi

    ĐỖ THÀNH



    Tải đăng với sự đồng ý của tác giả ngày 23.09.2009.

    NHẬT KÝ WEBSITE

    AM CÁC MINH - HỌC THUẬT và TÁC PHẨM

    Loading...

    THEO DÕI

    | Copyright © 2013 BÁCH KHOA THƯ AM CÁC MINH