>

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC

Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn là: Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh ( CNTB- TDCT) và chủ nghĩa tư bản độc quyền ( CNTB- ĐQ). Giai đoạn độc quyền là sự kế tục trực tiếp giai đoạn tự do cạnh tranh trong cùng một phương thức sản xuất TBCN.

Phát triển học thuyết kinh tế của C.Mác, LêNin đã trình bày một cách có hệ thống, sâu sắc lý luận về chủ nghĩa CNTB- ĐQ và CNTB- ĐQ Nhà nước. 

I. Chủ nghĩa tư bản độc quyền:

1. Nguyên nhân hình thành và bản chất của CNTB- ĐQ:

a. Nguyên nhân: ( 4 nguyên nhân)

- Một là: Sự phát triển của lục lượng sản xuất dưới tác dụng của tiến bộ KHKT, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới. Ngay từ đầu nó đã là những ngành có trình độ tích tụ cao, đó là những xí nghiệp lớn đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới.


- Hai là: Cạnh tranh tự do. Một mặt buộc các nhà TB phải cải tiến kỹ thuật, tăng qui mô tích lũy. Mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém, hoặc bị các đối thủ mạnh thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh. Vì vậy xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp.

- Ba là: Khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phả sản. Một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất. Tín dụng TBCN mở rộng trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất.

- Bốn là: Những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ lại tiếp tục cạnh tranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, vì thế nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền.

b. Bản chất của CNTB -ĐQ:

Xét về bản chất CNTB độc quyền là một nấc thang phát triển mới của CNTB.

CNTB độc quyền là CNTB trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

Sự ra đời của CNTB độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của CNTB. Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư.

2. Đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB- ĐQ: ( 5 đặc điểm)

a. Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:

- Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc trưng kinh tế cơ bản của CN đế quốc:

+ Khi bắt đầu chuyển sang CNTB- ĐQ thì hình thức thống trị là công ty cổ phần. Những liên minh độc quyền này đầu tiên hình thành theo sự liên kết ngang ( cùng ngành) dưới hình thức: Cácten, Xanhđica, Trớt.

+ Sau đó là sự liên kết dọc. Sự liên kết này không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các Xanhđica, Trớt thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như: Côngxoocxiom.

Nhưng từ giữa thế kỷ 20 đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành hình thành các công ty lớn như: Cônglômêrát, Consơn thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau.

Khái niệm: Tổ chức độc quyền là liên minh những nhà TB lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó.

- Vị trí, vai trò: Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền.

+ Giá cả độc quyền là giá cả hàng hóa có sự chệnh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất:

* Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa bán ra.

* Họ định ra giá cả độc quyền thấp hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mua vào, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền.

Vậy giá cả độc quyền là: Giá cả độc quyền = chi phí sản xuất + P độc quyền.
Nhưng giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư, vì xét trên phạm vi toàn xã hội thì: Tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị; tổng số lợi nhuận vẫn bằng tổng số giá trị thặng dư.

Do đó những gì mà độc quyền thu được cũng là cái mà tầng lớp tư sản vừa và nhỏ, nhân dân lao động ở các nước TB, thuộc địa mất đi.

Như vậy ta thấy: Độc quyền ra đời từ cạnh tranh và giữ vai trò thống trị, nhưng nó không thủ tiêu được cạnh tranh; độc quyền và cạnh tranh tồn tại song song và thống nhất với nhau một cách biện chứng. Tuy nhiên trong thời đại Đế quốc chủ nghĩa thì tính chất cạnh tranh khác hẳn thời kỳ tự do cạnh tranh về mức độ và hình thức.

b. TB tài chính và bọn đầu sỏ tài chính:

- Song song với qúa trình tích tụ và tập trung sản xuất, thì trong ngành ngân hàng cũng diễn ra một quá trình tương tự. Hình thành các tổ chức độc quyền ngân hàng.

- Sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng đã làm thay đổi vai trò của ngân hàng: 

+ Từ chỗ là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng, nay do nắm được phần lớn tư bản tiền tệ trong xã hội, ngân hàng đã có quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế xã hội:

* Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công nghiệp vay và nhận gửi số tiền lớn của các tổ chức độc quyền công nghiệp tring một thời gian dài, nên lợi ích của chúng quyện chặt vào nhau. Hai bên đều quan tâm đến hoạt động của nhau, tìm cách thâm nhập vào nhau, hình thành nên TB tài chính.

- Khái niệm: TB tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vàp nhau giữa TB độc quyên trong ngân hàng và TB độc quyền trong công nghiệp.

- Sự phát triển của TB tài chính đã dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị xã hội của xã hội TB. Đó chính là bọn đầu sỏ tài chính.

* Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự" với số phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc (công ty mẹ) -> chi phối công ty con ->chi phối công ty cháu… Như vậy chỉ bằng một số TB nhất định một đầu sỏ tài chính có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất 

c. Xuất khẩu tư bản:

- Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư.

- Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó.

- Xuất khẩu tư bản là tất yếu:

+ Vì trong các nước tư bản có hiện tượng "thừa tư bản".

+ Giá trị nguyên liệu và nhân công ở các nước chậm phát triển rẻ, nhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật

+ Thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn.

- Hình thức xuất khẩu TB:

+ Xuất khẩu tư bản trực tiếp: Xây dựng các xí nghiệp, trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận,....

+ Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Cho vay tư bản để thu lợi tức….

- Xuất khẩu TB vừa có tác dụng tích cực vừa có tác dụng tiêu cực, đặc biệt là đối với các nước nhận đầu tư, có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc về kinh tế, dẫn tới lệ thuộc về chính trị. 

d. Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế

Việc xuất khẩu TB tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư TB, phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền quốc tế với nhau... Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế: Cacten, Xanhđica, Trớt quốc tế. Nhưng giữa cac tổ chức này luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh lẫn nhau… tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế.

e. Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc 

Lợi ích của việc xuất khẩu TB đã thúc đẩy các cường quốc TB đi xâm chiếm thuộc địa, vì trên thị trường thuộc địa dễ dàng loại trừ được các đối thủ cạnh tranh, dễ dàng nắm được độc quyền nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Do tcác động đó, đặc biệt là do tác động của quy luật phát triển không đều của CNTB đó là những nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, cũng như các cuộc xung đột nóng ở nhiều khu vực trên thế giới hiện nay...

Như vậy: chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống trị ở nước ngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng của nhà nước.

Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền biểu hiện trong đường lối xâm lược nước ngoài, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản độc quyền.

II. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền.

1. Nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

a. Nguyên nhân:

Một là: Sự phát triển của LLSX dẫn đến quy mô của nèen kinh tế ngày càng lớn, tính chất xã hội hoá của nền kinh tế ngày càng cao đòi hỏi phải có sự điều tiết của xã hội đối với sản xuất và phân phối, một kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nhà nước phải dùng các công cụ khác nhau để can thiệp, điều tiết nền kinh tế.

Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một só ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận (như năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản...). Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn.

Ba là: sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động. Nhà nước phải có chính sách để giải quyết những mâu thuẫn đó: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phat triển phúc lợi xã hội.

Bốn là: Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinh doanh vừa và nhỏ….trở nên gay gắt cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước…. 

Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các tổ chức liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích giữa các đối thủ trên thì trường thế giới. Đòi hỏi có sự điều tiết các quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản có vai trò quan trọng để giải quyết các quan hệ đó.

Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với CNXH hiện thực và tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào đời sống kinh tế.

b. Bản chất.

- Xét về bản chất CNTB độc quyền nhà nước vẫn là chủ nghĩa tư bản, chịu sự chi phối của quy luật giá trị thặng dư, mặc dù đã có nhiều thay đổi so với chủ nghĩa tư bản thời kỳ canh tranh tự do.

- CNTB độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng nóc vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa tư bản độc quyền.

- CNTB độc quyền nhà nước chỉ là một nấc thang mới so với chủ nghĩa tư bản độc quyền thời kỳ đầu.

Đặc điểm nổi bật của CNTB độc quyền nhà nước là sự can thiệp, sự điều tiết của nhà nước về kinh tế.

Như vậy CNTB độc quyền nhà nước không phải là một chế độ kinh tế mới so với CNTB, lại càng không phải chế độ tư bản mới so với CNTB độc quyền. CNTB độc quyền nhà nước chỉ là CNTB độc quyền có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước về kinh tế, là sự kết hợp sức mạnh của tư bản độc quyền với sức mạnh của nhà nước về kinh tế.

2. Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước.

a. Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản:

- Sự kết hợp về nhân sự được thực hiện

+ Thông qua các đảng phải tư sản.

+ Thông qua các hội chủ xí nghiệp:

* Các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham giai vào bộ máy nhà nước

* Các quan chức chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền.

b. Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước:

- CNTB độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng nổi bật nhất là sức mạnh của sđộc quyền và nhà nước kết hợp với nhau trong lĩnh vựs kinh tế; Cơ sở của những biện pháp độc quyền nhà nước trong kinh tế là sự thay đổi các quan hệ sở hữu:

* Sở hữu nhà nước tăng lên.

* Quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền được tăng cường trong quá trình chu chuyển của tổng tư bản xã hội.

+ Sở hữu nhà nước được hình thành dưới những hình thức:

* Xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách.

* Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại

* Nhà nước mua cổ phiếu cảu các doanh nghiệp tư nhân.

* Mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư nhân .

c. Sự điều tiết kinh tế cua nhà nước tư sản:

- Nhà nước tư sản dung hợp cả 3 cơ chế: Thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế. Xét đến cùng và về bản chất, hệ thống điều tiết đó phục vụ cho CNTB độc quyền.
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM


I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.

1. Sự tồn tại khách quan và ý nghĩa của việc phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường.


a. Khái niệm:

- Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi mua bán.

b. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hóa - kinh tế thị trường:

+ Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế thị trường - Kinh tế thị trường là giai đoạn của phát triển kinh tế hàng hóa dựa trên sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất.

Trong những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tế hàng hóa tất nhiên chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất định, hình thành nên các chế độ kinh tế xã hội khác nhau.

Vì vậy, ta có thể nói rằng kinh tế hàng hóa là một sản phẩm của quá trình phát triển của LLSX xã hội loài người, nó xuất hiện và tồn tại trong nhiều PTSX xã hội và đạt đến trình độ cao hơn đó là kinh tế thị trường.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên CNXH những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn tồn tại do đó sự tồn tại kinh tế hàng hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan. Bởi vì những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện và tồn tại là:

- Những điều kiên chung để kinh tế hàng hoá xuất hiện là:

+ Phân công lao động xã hội:

* Là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hoá vẫn tồn tại và phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu ở nước ta hiện nay.

* Là cơ sở và là động lực để nâng cao năng suất lao động xã hội nghĩa là làm cho nền kinh tế có ngày càng có nhiều sản phẩm thạng dư dùng để trao đổi mua bán. Do đó làm cho trao đổi mua bán hàng hoá trên thị trường càng phát triển hơn.

+ Sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo nên sự tách biệt giữa các chủ thể kinh tế độc lập cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường ở nước ta.

Đại hội Đảng lần thứ IX - ĐCS Việt Nam đã khẳng định mô hình nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa( gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng XHCN)

c. Lợi ích của việc phát triển kinh tế thị trường:

- Thực hiện xã hội hoá sản xuất:

+ Nước ta trong TKQĐ muốn phát triển mạnh mẽ LLSX thì phải xã hội hoá, chuyên môn hoá lao động quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế thị trường.

+ Sản xuất càng xã hội hoá, chuyên môn hoá càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và trao đổi, hoạt động kinh tế, xã hội càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo cho những nhu cầu cần thiết của các hoạt động sản xuất khác nhau.

-Chỉ có phát triển nền kinh tế thị trường mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động.

+ Kinh tế tự nhiên do bản chất của nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ vì coi thường quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, cung cầu nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực để phát triển sản xuất.

+ Sử dụng kinh tế thị trường là sử dụng quy luật cạnh tranh, cung cầu buộc mỗi người sản xuất chịu trách nhiệm hàng hoá do mình làm ra. Cho nên mỗi người đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sản phẩm của mình làm ra được xã hội thừa nhận và cũng từ đó họ có thu nhập.

- Phát triển nền kinh tế thị trường là phù hợp với yêu cầu của LLSX, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội làm ra ngày càng phong phú và đáp ứng đa dạng nhu cầu của mọi người. 

- Phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi phải đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và lao động có trình độ cao:

+ Muốn thu được lợi nhuận họ cần phải vận dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạ gia thành sản phẩm làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế.

+ Qua cuộc cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tếvà lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiềuvà đó là một dấu hiệu quan trọng của tiến bộ kinh tế.

Như vậy phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công kinh tế. Đó là con đường đúng đăn để phát triển LLSX, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH. Kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường không đối lập với nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá dộ lên chủ nghĩa xã hội mà trái lại nó thúc đẩy các nhiệm vụ phát triển mạnh mẽ. Bằng thực tiễn những năm qua thực hiện công cuộc đổi mới đã chứng minh rằng việc chuyển sang mô hình kinh tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn....

2. Đặc điểm kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.

a. Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển.


- Thứ nhất: Trong thời gian qua, kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ, quy mô sản xuất nhỏ bé, năng suất chất lượng hiệu quả còn thấp...

- Thứ hai: Cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH, tuy nhiên cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, còn mất cân đối và kém hiệu quả. Cơ cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của kinh tế nông nghiệp, ngành nghề chưa phát triển, sự phân công hiệp tác, chuyên môn hoá sản xuất chưa sâu rộng, giao lưu hàng hoá còn nhiều hạn chế.

- Thứ ba: Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó.

+ Thị trường của nước ta đang ở trong quá trình hình thành và phát triển nên còn ở trình độ thấp.

+ Cơ cấu thị trường chưa đầy đủ, dung lượng thị trường nhỏ hẹp.

+ Các yếu tố kinh tế thị trường hình thành chưa đầy đủ....

-Thứ tư: công cuộc đổi mới ở nước ta trong 20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lich sử… một trong những thành tựu quan trọng nhất là kinh tế tăng trưởng khá nhanh. Xong thực tế cho thấy, thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người còn thấp, do đó sức mua hàng hoá còn thấp, tỷ suất hàng hoá chưa cao.

- Thứ năm: Còn chịu ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp...

Như vậy trong nhiều thập kỷ qua nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Cơ chế này đã mang lại những thành công nhất định giúp cho nền kinh tế được ổn định để thực hiện những nhiệm vụ của công cuộc kháng chiến giả phóng dân tộc và khội phục nền kinh tế sau chiến tranh. Nhưng nền kinh tế đã được khôi phục và đi vào tăng trưởng kinh tế thì cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp quan liêu trở nên không phù hợp và không hiệu quả cần có sự thay đổi.

b. Nền kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

- Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các thành phần kinh tế tiền hành sản xuất hàng hoá tuy có bản chất kinh tế khác nhau nhưng chúng đều là bộ phận của một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất với các quan hệ cung cầu, tiền tệ giá cả chung … Vì vậy chúng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau 

Tuy nhiên mỗi thành phần kinh tế lại chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng, do đó bên cạnh sự thống nhất, chúng còn có sự khác nhau và mâu thuẫn, khiến cho nền kinh tế thị trường có khả năng phát triển theo những phương hướng khác nhau.

Vì vậy, cùng với sự khuyến khích làm giàu chính đáng của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế: kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước...., nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế những khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế theo địng hướng xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề có ý nghĩa quyết định là nhà nước phải quan tâm tạo điều kiện củng cố, phát huy hiệu quả ra sức xây dựng khu vực kinh tế nhà nước. Không đảm nhiệm được vai trò này thì nền kinh tế ắt không tránh khỏi nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

c. Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở".

Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ phân bố không đều về tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước đáp ững yêu cầu quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế. Vì vậy trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia muốn phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

Cơ câu kinh tế "mở" thích ứng với thị trường hướng ngoại, làm cho thị trường trong nước thông thoáng và gắn liền với thị trường thế giới. Thông qua phát triển cơ cấu kinh tế "mở" giúp nước ta tiếp thu được công nghệ, vốn và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh…

d. Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản lý vĩ mô của nhà nước. 

- Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta làm cho nền kinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trước đây cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.

Đặc điểm này cũng chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mô hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng, làm cho nó khác với các mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.

3. Đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là:

+ Phát triển LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng QHSX mới phù hợp trên tất cả ba mặt: sở hữu, quản lý, phân phối nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Về sở hữu: Sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, tăng năng suất lao động, thực hiện công bằng xã hội và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như trước đây.

- Về quản lý: 

Trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ quản lý kinh tế nhà nước bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách. Đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường.

- Về phân phối: Kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hoá các hình thức phân phối. Thưc hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội, nó có tác dụng: tạo động lực kích thích các chủ thể, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế bất công trong xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ công bằng xã hội.

- Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta còn thể hiện ở chỗ: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa giáo dục, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin , Tư tưởng hồ Chí Minh đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân. Nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.

4. Những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

a. Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.

- Thừa nhận trên thực tế sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một trong những điều kiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.

- Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, việc khuyến khích thừa nhận các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ.

Như vậy, tất cả các thành phần kinh tế trên đều bình đẳng trước pháp luật, tuy vị trí quy mô, tỷ trọng trình độ khác nhau nhưng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

b. Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường.

- Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh kinh tế hàng hoá cần:

+ Mở rộng phân công lao động, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước nhằm: khai thác mọi nguồn lực, phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có, tạo việc làm cho người lao động.

+ Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài nhằm :

• Gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế.

• Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới.

+ Cần phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản: thị trường hàng hóa và dịch vụ, hình thành thị trường lao động có tổ chức, có quản lý chặt chẽ, về đất đai và thị trường nhà đất, thị trường vốn và từng bước hình thành thị trường chứng khoán.

c. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh CNH, HĐH.

- Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên đổi mới khoa học và công nghệ, để hạ chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy:

+ Phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Bởi vậy, để phát triển kinh tế hàng hóa chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa.

+ Vì thế cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại.

Trước mắt nhà nước cần tập trung ưu tiên xây dựng nâng cấp một số yếu tố thiất yếu như đường sá, cầu cống, bến cảng, điện nước, thông tin liên lạc, ngân hàng, dịch vụ quản lý... bảo hiểm

d. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ giá cả

- Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát triển. Nó là điều kiện quan trọng để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư.

+ Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực và quản lý của nhà nước, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân.

- Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.

- Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển.

e. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi.

- Hệ thống kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn phù hợp với nhu cầu của kinh tế thị trường:

• Điều tiết bằng chiến lược và kế hoạch kinh tế pháp luật.

• Chính sách và các đòn bẩy kinh tế.

• Điều tiết thông qua bộ máy Nhà nước

- Có đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh tương ứng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

• Đội ngũ đó phải có năng lực chuyên môn giỏi, thích ứng mau lẹ với cơ chế thị trường, dám chịu trách nhiệm, chịu rủi ro và trung thành với con đường XHCN mà nhân dân ta đã lựa chọn.

• Bên cạnh đó chúng ta cần có phương hướng sử dụng, bồi dưỡng đãi ngộ đúng đắn đội ngũ đó, nhằm kích thích hơn nữa việc không ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh quản lý tài năng quản lý kinh doanh của họ.

• Cơ cấu đội ngũ cán bộ phải được chú ý đảm bảo cả phạm vi vĩ mô và vi mô, cả cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh.

h. Thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại phải:

+ Đa dạng hóa hình thức, đa phương hóa đối tác.

+ Quán triệt nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không phân biệt chế độ chính trị xã hội.

+ Cải cách cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, thu hút rộng rãi vốn đầu tư nước ngoài, thu hút kỹ thuật, nhân tài và kinh nghiệm quản lý.


II. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ VĨ MÔ ĐỐI VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

1. Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

a. Nhà nước XHCN có vai trò kinh tế đặc biệt:


Bất cứ Nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế nhất định đối xã hội mà nó quản lý. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và trình độ phát triển kinh tế của từng chế độ xã hội mà vai trò kinh tế của Nhà nước có những biểu hiện thích hợp.

Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, vai trò kinh tế chủ yếu thể hiện ở việc điều tiết bằng thuế và luật pháp.

Đến CNTB độc quyền nhà nước, với sự xuất hiện khu vức sở hữu nhà nước, làm cho nhà nước tư sản bắt đầu có vai trò kinh tế mới. Ngoài việc điều tiết nến sản xuất xã hội thông qua thuế và luật pháp, nó còn có vai trò tổ chức quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước.

Đến nhà nước xã hội chủ nghĩa có vai trò kinh tế đặc biệt đó là: Tổ chức, quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở cả tầm vĩ mô và vi mô, trong đó vĩ mô là chủ yếu, bởi vì:

* Nhà nước XHCN là ngườu đại diện cho nhân dân toàn xã hội, nhiệm vụ tổ chức, quản lý đất nước về mọi mặt hành chính, kinh tế, xã hội

*Nhà nước XHCN là người đại diện cho sử hữu toàn dân về TLSX có nhiệm quản lý các nghiệp thuộc khư vực kinh tế nhà nước

* Nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chê thị trường, có những mặt tích cực và hạn chế…vì vậy cần có sự quản lý của nhà nước để hạn chế mặt tiêu cự, phát huy mặt tích cực…

b. Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước:

- Một là: Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đảm bảo ổn định chính trị, xã hội cho sự phát triển kinh tế.

- Hai là: Nhà nước tạo môi truờng kinh tế vĩ mô ổn định cho phát triển kinh tế 

- Ba là: Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và lành mạnh

- Bốn là: Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo định hướng XHCN.

2. Các công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:

a. Hệ thống pháp luật:
 

Nhà nước phải sử dụng hệ thống pháp luật làm công cụ điều tiết hoạt động của các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế…Việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đối với quá trình lâu dài…Nhưng có thể khái quát trên các lĩnh vực: 

- Xác định các chủ thể pháp lý, tạo cho họ các quyền (năng lực pháp lý) và hành động (khả năng kinh doanh) mang tính thống nhất 

- Quy định các quyền về kinh tế (quyền sở hữu, quyền sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế…) 

- Về hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng. Luật hợp đồng quy định quyền hoạt động của các chủ thể pháp lý, tức là các hành vi pháp lý 

- Về sự đảm bảo của nhà nước đối với các điều kiện chung của nền kinh tế có các luật: luật bảo hộ lao động, môi trường, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội…

- Về luật kinh tế đối ngoại phù hợp với thông lệ quốc tế 

b. Kế hoạch và thị trường:

Nền kinh tế vận hành theo có chế thị trưòng có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN đòi hỏi phải sử dụng hai công cụ quản lý cơ bản là kế hoạch và thị trường. Việc sử dụng hai công cụ này không thể tách rời nhau mà là sự vận dụng quy luật phát triển có kế hoạch để điều tiết tác động của quy luật giá trị và vận dụng qu luật giá trị nhằm quản lý kinh tế phát triển theo kế hoạch.

- Từ chỗ đối lập kế hoạch với thị trường ngày nay chúng ta đã nhận thức rõ cả kế hoạch lẫn thị trường đều là công cụ để quản lý nền kinh tế, trong đó thị trường là căn cứ là đối tượng và là công cụ kế hoạch hoá 

- Nhà nước điều tiết thị trường thông qua kế hoạch hoá vĩ mô - kế hoạch hoá gian tiếp bằng hệ thống hcỉ tiêu cân đối…còn thị trường dẫn dắt hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế căn cứ vào nhu cầu thị trường 

- Kế hoạch nhà nước bao gồm kế hoạch dài hạn và ngắn hạn…

c. Xây dưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể hoạt động có hiệu quả

Kinh tế nà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân XHCN. Vì vậy sự hoạt động có hiệu quả của hai thành phần kinh tế này có vai trò quyết định đối với các thành phần kinh tế khác theo định hướng XHCN. 

Các thành phần kinh tế này mở đường và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền vững cảu nền kinh tế. Nhờ có hai thành phần kinh tế này mà nhà nước có sức mạnh vật chất để điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội do kế hoạch đặt ra.

d. Tài chính 

- Bản chất của tài chính 

- Hệ thống tài chính trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

- Chức năng của tài chính: 

+ chức năng phân phối

+ chức năng giám đốc

- Vai trò của tài chính trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

+ điều tiết kinh tế
+ xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế- xã hội
+ tập trung và tích luỹ, cung ứng vốn cho nhu cầu dựng và bảo vệ đất nước.
+ tăng cường tính hiệu quả cho sản xuất và kinh doanh
+ hình thành quan hệ tích luỹ và tiêu dùng hợp lý
+ củng cố nhà nước, liên minh công nông, tăng cường an ninh quốc phòng
- Chính sách tài chính

e. Tín dụng 

- Bản chất của quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ

Quan hệ tín dụng tồn tại dưới các hình thức sau:

* Tín dụng nhà nước
* Tín dụng thương mại
* Tín dung ngân hàng

- Chức năng của tín dụng:

+ Chức nang phân phối
+ Chức năng giám đốc 

- Vai trò của tín dụng

g. Ngân hàng:

Ngân hàng nước ta được tổ chức thành hai cấp( hai phân hệ):

Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại

- Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước.
- Chức năng và nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

h. Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại

Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế mở, xúc tiến các quan hệ kkinh tê đối ngoại. Nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ, trong đó chủ yếu là: thuế xuất nhập khẩu hạn ngạch (Quơta), tỷ giá hối đoái, bảo đảm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu…

Thông qua những công cụ này nhà nước có thể khuyến khích xuất, nhập khẩu; đồng thời bảo hộ một các hợp lý nền sản xuất nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài ngày càng nhiều; giữ vững độc lập chủ quyền lợi ích quốc gia…

- Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Việc thắt chặt hay nới lỏng cung ứng tiền tệ, kiềm chế lạm phát thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế.
- Bằng công cụ này, nhà nước có thể hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, ngăn chặn tính tự phát tư bản chủ nghĩa.

i. Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại.
- Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế mở, xúc tiến các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhà nứơc phải sử dụng nhiều công cụ, trong đó chủ yếu là: thuế xuất nhập khẩu hạn ngạch, tỷ giá hối đoái, đảm bảo tính dụng xuật khẩu, trợ cấp xuất khẩu....

- Thông qua các những công cụ này, nhà nước có thể khuyến khích về xuất, nhập khẩu, đồng thời lại bảo hộ một cách hợp lý nền sản xuất nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài ngày càng nhiều, giữ vững nền độc lập, chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc theo định hướng theo XHCN. 

NHẬT KÝ WEBSITE

AM CÁC MINH - HỌC THUẬT và TÁC PHẨM

Loading...

THEO DÕI

| Copyright © 2013 BÁCH KHOA THƯ AM CÁC MINH